COV - Âm nhạc là một trong những ngành công nghiệp nội dung quan trọng, vừa là sản phẩm văn hóa tinh thần, công cụ hiệu quả để quảng bá văn hóa, vừa là quyền tài sản có giá trị, đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, Internet, các nền tảng phát trực tuyến và mạng xã hội, hướng phát triển theo chuỗi giá trị ngành công nghiệp âm nhạc, với sự tham gia của các bên trong việc tạo ra giá trị gia tăng và hưởng lợi ích từ nội dung âm nhạc đều tạo nên đóng góp đáng kể cho ngành.
Trong bối cảnh đó, pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan đóng vai trò là nền tảng pháp lý quan trọng. Bên cạnh đó, sự liên thông thị trường âm nhạc quốc tế và trong nước, bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và không gian Internet đa chiều... là những vấn đề đáng quan tâm.
Bài tham luận tập trung phân tích (i) cơ sở lý luận và khung pháp lý quốc tế về quyền tác giả, quyền liên quan trong lĩnh vực âm nhạc; (ii) thực trạng áp dụng ở Việt Nam; (iii) Hoạt động của các tổ chức tham gia thương mại hóa sản phẩm âm nhạc tại Việt Nam; (iv) Thuận lợi, thách thức và một số đề xuất, kiến nghị.
1. Cơ sở lý luận và khung pháp lý quốc tế
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Luận bàn về khai thác, sử dụng âm nhạc
Âm nhạc được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, được xem như món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống. Âm nhạc xuất hiện trong sinh hoạt động cộng đồng dân cư từ xa xưa trong những điệu hát, làn điệu âm nhạc, câu hò, điệu múa, trên sân khấu cung đình, trong lễ hội dân gian, các trò diễn…
Ngày nay, âm nhạc được sử dụng phổ biến, từ biểu diễn trực tiếp tại nhà hát sang trọng, trên sân vận động, các sự kiện ngoài trời, trong các buổi sinh hoạt cộng đồng dân cư, trong quán pub… đến các phòng hát karaoke, phát nhạc tại các quán cà phê, nhà hàng, khách sạn, trong siêu thị, tại gia đình…. Âm nhạc được nghe, xem dễ dàng bằng việc truy cập Internet đến youtube, các app nhạc như spotify, xem trực tuyến streaming… trên smartphone, máy tính bảng, máy tính xách tay…
Âm nhạc cũng là một phần không thể thiếu trong phim, trên sân khấu kịch, múa… Âm nhạc dù xuất hiện trong các chương trình nghệ thuật tổng hợp hoặc trong phim, sân khấu… cũng có thể phát sóng truyền hình, phát thanh, hoặc qua cáp, trên mạng thông tin điện tử, mạng viễn thông, mạng Internet, trên các nền tảng mạng xã hội…
Tác phẩm âm nhạc là thuộc loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả có thể tồn tại độc lập dạng bản nhạc có lời hoặc không lời hoặc sử dụng trên sân khấu, trong phim ảnh…. và trở thành một bộ phận của tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh đó. Âm nhạc trong tác phẩm điện ảnh, sân khấu có thể là phần không tách rời, nhưng cũng có thể là những bản nhạc, ca khúc có đời sống riêng, tách biệt khỏi tác phẩm điện ảnh, sân khấu, có sức lôi cuốn, được công chúng đón nhận như nhạc phẩm độc lập.
Nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, người viết nhạc, ca khúc… gọi là tác giả, đồng tác giả. Để âm nhạc đến với người nghe, người xem còn có vai trò của ca sỹ biểu diễn nhạc, nhạc công (gọi là người biểu diễn) và có bên thu âm, ghi hình, làm MV ca nhạc (gọi là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình), những người góp phần đưa âm nhạc đến với công chúng như các đài phát thanh, đài truyền hình (gọi là tổ chức phát sóng), bên cung cấp dịch vụ trung gian Internet, đơn vị tổ chức biểu diễn âm nhạc, đơn vị những người sáng tạo nội dung số về âm nhạc…
Như vậy, tham gia vào chuỗi giá trị ngành âm nhạc có người nhạc sĩ, người sáng tác nhạc - bằng tài năng, công sức của mình; có sự đóng góp sáng tạo, đầu tư cơ sở vật chất của nhiều cá nhân, tổ chức để âm nhạc đến với công chúng theo đa dạng cách thức như ngày nay.
1.1.2. Khái quát về quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc
a) Quyền tác giả
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Trong lĩnh vực âm nhạc, đây là các quyền của nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, soạn lời… đối với tác phẩm âm nhạc do họ sáng tạo ra hoặc các quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm âm nhạc do họ sở hữu.
Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc có đặc điểm cơ bản sau:
- Quyền tác giả phát sinh tự động, ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký hay công bố. Một bản nhạc thuộc loại hình tác phẩm âm nhạc, khi đáp ứng điều kiện về tính nguyên gốc, được bảo hộ quyền tác giả ngay khi sáng tạo ra.
- Quyền tác giả bảo hộ hình thức thể hiện của tác phẩm, không phân biệt nội dung, chất lượng hay giá trị sử dụng của tác phẩm.
Quyền tác giả bao gồm hai nhóm quyền chính là quyền nhân thân (còn gọi là quyền tinh thần) và quyền tài sản. Quyền nhân thân gắn với cá nhân tác giả, bảo vệ sự liên kết cá nhân giữa tác giả và tác phẩm do mình sáng tạo như đặt tên tác phẩm, đứng tên tác giả, công bố tác phẩm, không cho người khác xuyên tạc hoặc bất kỳ hình thức sửa đổi, cắt xén nào gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả. Quyền tài sản gắn liền với việc khai thác lợi ích vật chất, giá trị kinh tế từ tác phẩm như sao chép, biểu diễn, phát sóng, truyền đạt qua phương tiện kỹ thuật số, làm tác phẩm phái sinh...
Khi tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu được sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc có thể được hưởng quyền tác giả một cách độc lập đối với tác phẩm âm nhạc đó.
Tác phẩm âm nhạc có thời hạn bảo hộ tính theo đời người. Tại một số nước, thể loại âm nhạc dân gian vẫn có thể được hưởng bảo hộ quyền tác giả ở mức độ nhất định dưới dạng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
b) Quyền liên quan
Quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng là quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi là quyền liên quan). Những cá nhân, tổ chức này có đầu tư, nghiên cứu, đóng góp vào việc đưa tác phẩm tới công chúng hoặc trình bày, biểu đạt, tạo ra sản phẩm có tính sáng tạo, kỹ năng đủ để các lợi ích hợp pháp của họ được công nhận và bảo vệ quyền sở hữu như quyền tác giả. Nói cách khác, nếu quyền tác giả bảo vệ người tạo ra nội dung, thì quyền liên quan bảo vệ những người truyền tải, phổ biến nội dung đó đến người xem, người nghe.
Quyền liên quan có đặc điểm cơ bản sau:
- Quyền liên quan coi các sản phẩm là kết quả hoạt động của cá nhân, tổ chức xứng đáng được bảo hộ pháp lý khi các sản phẩm đó liên quan đến bảo hộ tác phẩm của tác giả theo quyền tác giả. Mặc dù xuất hiện sau, nhưng quyền liên quan vẫn là loại quyền sở hữu trí tuệ độc lập, được pháp luật ghi nhận sự bảo hộ độc lập tương đối và đồng thời với quyền tác giả khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được định hình hoặc thực hiện.
- Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.
- Bảo hộ quyền liên quan dành cho nhóm các chủ thể quyền liên quan tập trung vào quyền tài sản và bảo hộ quyền nhân thân dành cho các chủ thể quyền liên quan hạn chế hơn so với quyền nhân thân của tác giả. Hiện nay, pháp luật quốc tế cũng như pháp luật nhiều quốc gia chỉ quy định về bảo hộ quyền nhân thân cho người biểu diễn, mà không xem xét đến các quyền nhân thân của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng. Đặc điểm này xuất phát từ những đòi hỏi kỹ năng đặc biệt về chất giọng, khả năng diễn xuất… của người biểu diễn âm nhạc để tạo ra cuộc biểu diễn phục vụ công chúng khác với mục đích thu lợi nhuận và tính chất nghề nghiệp mà nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng tạo ra các bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.
Ba nhóm chủ thể chính có quyền liên quan gồm:
• Người biểu diễn: Người trình bày, thể hiện tác phẩm, ví dụ tác phẩm âm nhạc, như ca sĩ, diễn viên, nhạc công….
• Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: Tổ chức, cá nhân khởi xướng và có trách nhiệm đối với việc định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác hoặc sự tái hiện của âm thanh, hình ảnh đó trên bất kỳ phương tiện nào
• Tổ chức phát sóng: Tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng nội dung chương trình đến công chúng, ví dụ đài truyền hình, đài phát thanh.
Ví dụ: Một nhạc sĩ sáng tác bài hát (quyền tác giả). Ca sĩ thể hiện bài hát đó (quyền liên quan của người biểu diễn). Hãng thu âm sản xuất bản ghi bài hát (quyền liên quan của nhà sản xuất bản ghi âm). Đài truyền hình phát sóng video bài hát (quyền liên quan của tổ chức phát sóng).
Tương tự quyền tác giả, quyền liên quan của người biểu diễn cũng bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Như vậy, tác giả của tác phẩm âm nhạc, người biểu diễn tác phẩm âm nhạc, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng được hưởng bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.
1.1.3. Các tổ chức tham gia thương mại hóa sản phẩm âm nhạc
a) Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc
Xuất phát từ nhu cầu khai thác, sử dụng âm nhạc ở quy mô thương mại, trên địa bàn rộng, trong nhiều bối cảnh, trên nhiều môi trường, các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ủy quyền cho tổ chức thay mặt mình để cho phép thực hiện các quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc, thu và phân chia tiền bản quyền, phát hiện và ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu xử lý xâm phạm. Việc cho phép sử dụng hàng loạt các tác phẩm âm nhạc, cuộc biểu diễn âm nhạc, bản ghi âm, ghi hình âm nhạc từ nguồn trung tâm trên cơ sở các giấy phép là sự thuận lợi cho chính chủ sở hữu quyền và cả bên sử dụng.
Tổ chức quản lý tập thể quyền này là mô hình tự nguyện, không vì mục đích lợi nhuận và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Quản lý tập thể quyền về âm nhạc thông thường dưới 3 dạng: Quản lý tập thể quyền tác giả âm nhạc; quản lý tập thể quyền của người biểu diễn âm nhạc; quản lý tập thể quyền đối với bản ghi âm, ghi hình âm nhạc.
Tổ chức quản lý tập thể quyền về âm nhạc có lịch sử hoạt động lâu đời trên thế giới, như Liên minh quốc tế Hiệp hội các Nhà soạn nhạc và lời (CISAC), Hiệp hội các tác giả, nhà soạn nhạc và nhà xuất bản âm nhạc (SACEM) của Pháp, Hiệp hội Chủ sở hữu quyền sao chép tác phẩm âm nhạc (AMCOS), Hiệp hội Quyền biểu diễn (APRA) đại diện tại khu vực Úc, New Zealand…
Để quản lý quyền trên Internet, các tổ chức quản lý tập thể đã đầu tư công nghệ làm các định dạng số về tác phẩm âm nhạc, bản ghi âm, ghi hình âm nhạc thuộc quản lý của mình, làm cơ sở nhận diện, so khớp, đối soát việc sử dụng, thu tiền bản quyền, cảnh báo bên sử dụng mà chưa được sự đồng ý, báo cáo vi phạm đến nhà cung cấp dịch vụ trung gian trên Internet.
b) Nhà cung cấp dịch vụ trung gian trên Internet
Trong thời đại Internet xuất hiện tổ chức mới, đóng vai trò trung gian, kết nối giữa tổ chức, cá nhân đưa nội dung số về âm nhạc lên Internet và công chúng sử dụng nội dung số này, đó là nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Hiện nay có nhiều nội dung số về âm nhạc dưới dạng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng xuất hiện trên Internet.
Nhà cung cấp dịch vụ trung gian trên Internet là bên cung cấp phương tiện kỹ thuật qua các dịch vụ của mình cho tổ chức, cá nhân sử dụng để đưa nội dung số lên Internet cũng như cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung số đó trên Internet.
Từ nguyên lý về bến cảng an toàn nhằm bảo vệ Nhà cung cấp dịch vụ Internet (miễn trừ có điều kiện đối với trách nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan) khi họ "chỉ truyền dẫn” hoặc "lưu trữ tạm thời” có điều kiện hoặc "cho thuê chỗ lưu trữ” có điều kiện đối với nội dung số về âm nhạc trên Internet có vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan, pháp luật một số quốc gia đưa ra quy định kèm điều kiện để bảo vệ các Nhà cung cấp dịch vụ trung gian này.
c) Doanh nghiệp, tổ chức khác tham gia chuỗi giá trị âm nhạc
Tham gia vào chuỗi giá trị ngành công nghiệp âm nhạc còn có nhiều bên liên quan, mỗi bên đều tạo ra giá trị gia tăng và cho phép kiếm tiền từ nội dung âm nhạc. Ví dụ nhà cung cấp dịch vụ kỹ thuật (phòng thu, nhà cung cấp phần mềm), các công ty hỗ trợ phân phối và sản xuất trực tiếp, các công ty tổ chức sự kiện trực tiếp (nhà tổ chức hòa nhạc; cung cấp địa điểm; công ty bán vé; công ty bán hàng và xây dựng thương hiệu…). Các bên tham gia trên và cá nhân sáng tạo (nhạc sĩ, ca sỹ, nhạc công..) thường hợp tác thông qua hợp đồng và chia sẻ doanh thu.
Như vậy, tác phẩm âm nhạc của tác giả nhạc, ca sĩ biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tham gia vào quá trình thương mại hóa âm nhạc còn có vai trò của tổ chức đại diện tập thể quyền về âm nhạc, nhà quảng cáo, nhà bán hàng, nhà tài trợ, nền tảng phát nhạc trực tuyến… tạo thành hệ sinh thái rộng lớn đưa tác phẩm âm nhạc ra thị trường.
1.1.4. Cho phép sử dụng, thu và phân chia tiền bản quyền trong khai thác thương mại quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc
Có 2 hình thức phổ biến về khai thác quyền tác giả, quyền liên quan là chuyển nhượng và chuyển quyền sử dụng.
Theo hình thức chuyển nhượng, chủ sở hữu quyền chuyển giao quyền cho phép hoặc cấm những hành vi là quyền thuộc quyền tác giả, quyền liên quan của mình (trừ các quyền nhân thân không thể chuyển nhượng). Vì vậy, nếu tất cả các quyền đều được chuyển nhượng, người được chuyển nhượng các quyền đó trở thành chủ sở hữu quyền mới. Chuyển nhượng ít được áp dụng với quyền tác giả âm nhạc, vì sau khi chuyển nhượng (còn gọi là bán) thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không còn quyền quyết định đối với đứa con tinh thần của mình, không được hưởng tiền bản quyền cho các lần sử dụng tiếp theo đối với tác phẩm âm nhạc.
Chuyển quyền sử dụng có nghĩa là chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan vẫn giữ quyền sở hữu nhưng cho phép một bên thứ ba thực hiện một số hành vi thuộc quyền của mình, thường là trong một khoảng thời gian và theo mục đích nhất định. Giấy cho phép có thể độc quyền, nghĩa là chủ sở hữu quyền đồng ý không cho phép bất kỳ bên thứ ba nào được thực hiện cùng hành vi đã cho phép; hoặc không độc quyền, nghĩa là chủ sở hữu quyền tác giả có thể cho phép các bên thứ ba được thực hiện cùng hành vi đã cho phép. Vì vậy, trong âm nhạc, hình thức chuyển quyền sử dụng phổ biến thông qua vai trò của các tổ chức quản lý tập thể quyền.
Theo chuyển quyền sử dụng, phải xin phép và trả tiền bản quyền cho các lần sử dụng, các hình thức sử dụng, từ xin phép biểu diễn trực tiếp, livestreaming trên nền tảng số, làm bản ghi âm, ghi hình để phát trên đài phát thanh, đài truyền hình, phát trên nền tảng số, phát trên các app chuyên về âm nhạc, dùng trong Karaoke, pub, disco, quán cà phê…
Các tổ chức quản lý tập thể quyền về âm nhạc có biểu mức tiền bản quyền áp dụng cho các hình thức sử dụng khác nhau làm cơ sở để đàm phán, thỏa thuận và ký kết hợp đồng với bên sử dụng âm nhạc. Trường hợp sử dụng theo giới hạn quyền tác giả, giới hạn quyền liên quan thì tổ chức quản lý tập thể quyền về âm nhạc và bên sử dụng âm nhạc căn cứ theo quy định pháp luật về mức tiền bản quyền phải trả.
Khi sử dụng âm nhạc trên những nền tảng số lớn (nhà cung cấp dịch vụ trung gian), tổ chức quản lý tập thể quyền về âm nhạc và nền tảng số sẽ ký hợp đồng thỏa thuận về việc đăng phát âm nhạc trên nền tảng, thu tiền bản quyền sử dụng nhạc, tiền từ hoạt động quảng cáo khi người nghe, xem nhạc kèm quảng cáo… và việc chia sẻ lợi nhuận thu được.
Tiền bản quyền thu được sẽ được tổ chức quản lý tập thể chi trả cho từng chủ sở hữu quyền theo số lượng, tần suất sử dụng sau khi trừ đi chi phí quản lý của tổ chức. Ngày nay, việc tính toán số lượng, tần suất sử dụng âm nhạc trên cơ sở thiết bị kiểm đếm nên tính chính xác tương đối cao.
Theo cách thức tương tự, các công ty chuyên tổ chức biểu diễn âm nhạc và công ty quản lý quyền về âm nhạc trên nền tảng số cũng có thể làm việc với nền tảng số để đăng phát nhạc trên các kênh phát nhạc khác nhau, thu tiền từ quảng cáo hướng về người nghe nhạc hoặc thu tiền bản quyền nhạc (lựa chọn không có quảng cáo) và việc phân chia lợi nhuận thu được từ đó.
1.2. Khung pháp lý quốc tế về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc
1.2.1. Khung pháp lý quốc tế đa phương
Khung pháp lý quốc tế đa phương về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nói chung, tác phẩm âm nhạc nói riêng đã có từ thế kỷ 19 với Công ước Berne, sau đó là văn kiện về bảo hộ các quyền liên quan dành cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng gồm Công ước Rome, Công ước về bản ghi âm, Công ước Brussels. Trong khung khổ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp định TRIPS ra đời năm 1995 đã gắn kết bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan với thương mại quốc tế. Cập nhật các quy định trong kỷ nguyên số dẫn đến sự ra đời của Hiệp ước WCT và Hiệp ước WPPT. Các văn kiện này vẫn mở để các quốc gia xem xét, gia nhập.
a) Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật (1886)
Công ước Berne là điều ước quốc tế đa phương quy định về việc bảo hộ tác phẩm và quyền của tác giả, trong đó có tác phẩm âm nhạc. Công ước cung cấp cho người sáng tạo là tác giả, nhạc sĩ, nhà thơ, họa sĩ… phương tiện để kiểm soát cách thức tác phẩm của họ được sử dụng, ai sử dụng và sử dụng theo điều khoản nào. Công ước dựa trên ba nguyên tắc cơ bản gồm đối xử quốc gia, bảo hộ tự động và bảo hộ độc lập. Công ước quy định các điều khoản xác định mức bảo hộ tối thiểu cũng như các điều khoản đặc biệt dành cho các nước đang phát triển muốn sử dụng chúng.
Trên phương diện quốc tế, Công ước đặt ra nguyên tắc “phép thử ba bước” (three-step test) phải thỏa mãn ba bước thử: (1) Đó phải là những trường hợp đặc biệt với lý do chính đáng được quy định cụ thể trong pháp luật quốc gia; (2) Giới hạn quyền không được ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm; (3) Giới hạn quyền không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến các lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
b) Công ước Rome về Bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng (1961)
Công ước Rome là điều ước quốc tế đa phương quy định đảm bảo việc bảo hộ đối với các buổi biểu diễn cho người biểu diễn, các bản ghi âm cho nhà sản xuất bản ghi âm và các chương trình phát sóng cho tổ chức phát sóng.
c) Công ước về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ (1971)
Được gọi là Công ước về bản ghi âm và là điều ước quốc tế đa phương. Công ước quy định nghĩa vụ của mỗi quốc gia thành viên trong việc bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của một quốc gia thành viên khác chống lại việc sao chép mà không có sự đồng ý của nhà sản xuất đó, chống lại việc nhập khẩu các bản sao đó, nếu việc sao chép hoặc nhập khẩu nhằm mục đích phân phối đến công chúng và chống lại việc phân phối các bản sao đó đến công chúng.
d) Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh (1974)
Công ước là điều ước quốc tế đa phương, còn có tên gọi là Công ước Brussels hoặc Công ước về vệ tinh. Công ước quy định nghĩa vụ của mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp thích hợp để ngăn chặn việc phân phối trái phép bất kỳ tín hiệu mang chương trình nào được truyền qua vệ tinh trên hoặc từ lãnh thổ của mình.
đ) Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (1994)
Được gọi là Hiệp định TRIPs hoặc Phụ lục 1C của Hiệp định Marrakesh về việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ký kết vào năm 1994 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1995. Hiệp định là một trong những trụ cột quan trọng nhất của WTO và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trở thành một phần không thể tách rời trong hệ thống thương mại đa phương của WTO.
Hiệp định TRIPs quy định về tiêu chuẩn liên quan đến khả năng đạt được, phạm vi và sử dụng quyền sở hữu trí tuệ đối với quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu...; kiểm soát thực tế chống cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; thực thi quyền sở hữu trí tuệ; giải quyết tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO... Hiệp định TRIPS ràng buộc đối với tất cả Thành viên của WTO.
e) Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả (WCT) (1996)
Hiệp ước là thỏa thuận đặc biệt theo Công ước Berne, liên quan đến việc bảo hộ các tác phẩm và quyền của tác giả trong môi trường số, đặc biệt về quyền phân phối, truyền đạt trên mạng Internet. Việc này đặc biệt có ý nghĩa đối với quyền tác giả và tác phẩm âm nhạc được bảo hộ trên mạng Internet.
g) Hiệp ước của WIPO về cuộc biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) (1996)
Hiệp ước quy định về quyền của hai nhóm đối tượng thụ hưởng, đặc biệt trong môi trường số là người biểu diễn (như ca sĩ biểu diễn, nhạc công….) và nhà sản xuất bản ghi âm (cá nhân hoặc pháp nhân khởi xướng và chịu trách nhiệm cho việc ghi âm các âm thanh). Hiệp ước cập nhật quy định phù hợp với kỷ nguyên số, đặc biệt về quyền phân phối, truyền đạt trên mạng Internet.
1.2.2. Thỏa thuận thương mại tự do có nội dung cam kết về quyền tác giả, quyền liên quan
Trong xu hướng thương mại quốc tế, các quốc gia và vùng lãnh thổ đã cùng nhau ký kết các thỏa thuận thương mại tự do, trong đó có nội dung về quyền sở hữu trí tuệ. Một số Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA đặt ra yêu cầu cao về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, trong đó có bản quyền âm nhạc, đặc biệt trong môi trường số.
a) Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) (2018)
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có 11 thành viên gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây Đa-rút-xa-lam, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam.
Quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Chương 18 của CPTPP, bao gồm các cam kết liên quan đến vấn đề bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, được xếp vào 4 nhóm: cam kết chung; cam kết về tiêu chuẩn bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ; cam kết về một số sản phẩm sở hữu trí tuệ đặc thù; cam kết liên quan đến thực thi các quyền sở hữu trí tuệ.
b) Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) (2019)
EVFTA là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao, gồm 17 chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ. Chương 12 của EVFTA quy định về sở hữu trí tuệ tập trung vào 03 nhóm các cam kết: vấn đề chung; tiêu chuẩn bảo hộ đối với từng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cụ thể; biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Như vậy, việc tham gia các Điều ước quốc tế đa phương và ký kết các thỏa thuận thương mại tự do làm cơ sở pháp lý cho quốc gia xây dựng chính sách và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan theo hướng mở rộng thẩm quyền ra quy mô toàn cầu và không gian mạng về bảo hộ tác phẩm âm nhạc và các sản phẩm từ âm nhạc.
2. Thực trạng áp dụng ở Việt Nam
2.1. Khung pháp luật hiện hành
Ở Việt Nam, quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc được điều chỉnh chủ yếu tại các văn bản sau:
- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022 và 2025.
- Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26/4/2023 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều về quyền tác giả, quyền liên quan.
- Nghị định số 21/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác; Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ngày 14/03/2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản .
- Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan.
Các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền tác giả, quyền liên quan mà Việt Nam tham gia, ký kết như:
- Tham gia Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật vào ngày 26/7/2004 và Công ước có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26/10/2004.
- Tham gia Công ước Rome về Bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng vào ngày 01/12/2006 và Công ước có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/03/2007.
- Tham gia Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ vào ngày 06/04/2005 và Công ước có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 6/7/2005.
- Tham gia Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh vào ngày 12/10/2005 và Công ước có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 12/01/2006.
- Tham gia Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs) có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 11/01/2007.
- Tham gia Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả (WCT) vào ngày 17/11/2021 và hiệp ước có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 17/02/2022.
- Tham gia Hiệp ước của WIPO về cuộc biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) vào ngày 01/04/2022 và hiệp ước có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/07/2022.
- Ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vào năm 2018.
- Ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) vào ngày 30/6/2019, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/8/2020.
Ngoài ra còn có một số điều ước quốc tế khác có nội dung cam kết về quyền tác giả, quyền liên quan mà Việt Nam ký kết, tham gia.
Như vậy, khung pháp luật hiện hành về quyền tác giả, quyền liên quan phù hợp với các điều ước quốc tế và thỏa thuận thương mại mà Việt Nam đã ký kết, tham gia, là cơ sở pháp lý để thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc trong bối cảnh toàn cầu hóa.
2.2. Quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc theo pháp luật Việt Nam
2.2.1. Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc
Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản.
Các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ gồm Đặt tên cho tác phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Các quyền nhân thân gắn liền tác giả và không thể chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp quyền công bố tác phẩm và chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản.
Các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ, từ Làm tác phẩm phái sinh, Biểu diễn, Sao chép, Phân phối, nhập khẩu, Phát sóng, truyền đạt. Khác với quyền nhân thân, quyền tài sản là phạm trù quyền về kinh tế, có thể chuyển nhượng, chuyển quyền (cấp phép) sử dụng, kiểm soát việc sử dụng tác phẩm (cho phép hay ngăn cấm người khác sử dụng) và thường là yếu tố tạo nên giá trị thương mại cho tác phẩm âm nhạc. Đối với chủ sở hữu quyền tác giả, đây là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ thành quả sáng tạo, sở hữu và bảo đảm thu nhập.
2.2.2. Quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình và chương trình phát sóng về tác phẩm âm nhạc
Về quyền của người biểu diễn quy định tại Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ
Ca sĩ, nhạc công và những người trình bày tác phẩm âm nhạc gọi là người biểu diễn âm nhạc. Chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn âm nhạc có thể là người biểu diễn hoặc cá nhân/tổ chức đầu tư tài chính, kỹ thuật, giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng để tổ chức cuộc biểu diễn. Khi người biểu diễn không đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn thì người biểu diễn chỉ có các quyền nhân thân, chủ sở hữu được hưởng các quyền tài sản.
Quyền nhân thân gồm Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng cuộc biểu diễn; Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.
Quyền tài sản từ Định hình, Sao chép, Phát sóng, truyền đạt cuộc biểu diễn chưa được định hình, Phân phối, nhập khẩu, Cho thuê, Phát sóng, truyền đạt bản định hình cuộc biểu diễn.
Về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quy định tại Điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ
Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn âm nhạc được gọi là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Chủ sở hữu quyền liên quan đối với bản ghi âm, ghi hình có thể là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình hoặc cá nhân/tổ chức đầu tư tài chính, kỹ thuật, giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng để sản xuất bản ghi âm, ghi hình.
Các quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình (nhà sản xuất đồng thời là chủ sở hữu) hoặc chủ sở hữu quyền liên quan (nhà sản xuất không phải là chủ sở hữu) đối với bản ghi âm, ghi hình từ Sao chép, Phân phối, nhập khẩu, Cho thuê, Phát sóng, truyền đạt.
Về quyền của tổ chức phát sóng quy định tại Điều 31 Luật Sở hữu trí tuệ
Tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng gọi là tổ chức phát sóng.
Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền từ Phát sóng, tái phát sóng, Sao chép, Định hình, Phân phối, nhập khẩu.
3. Hoạt động của các tổ chức tham gia thương mại hóa sản phẩm âm nhạc tại Việt Nam
3.1. Hoạt động của các tổ chức quản lý tập thể về âm nhạc
Tại Việt Nam, có 3 tổ chức quản lý tập thể về âm nhạc (còn gọi là các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan) được thành lập và hoạt động, bao gồm: Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam - VCPMC (ra đời năm 2002), Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam - RIAV (năm 2003), Hội Bảo vệ quyền của nghệ sỹ biểu diễn âm nhạc Việt Nam - APPA (năm 2015).
Các tổ chức đại diện tập thể được thành lập và hoạt động theo quy định pháp luật về hội (Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, thay thế Nghị định số 45/2010/NĐ-CP và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP). Bộ Nội vụ là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hội trong phạm vi cả nước. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn, thông tin hoạt động, nghiệp vụ của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan theo Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành.
VCPMC thực hiện quản lý tập thể đối với các quyền tác giả âm nhạc được ủy quyền. Tính đến hết năm 2022, VCPMC được ủy thác quyền từ 5.312 tác giả với 223.000 tác phẩm trong nước; ký hợp đồng hợp tác song phương với 84 Tổ chức quốc tế tương ứng với hơn 4 triệu tác giả âm nhạc quốc tế, nhờ đó, các tác phẩm âm nhạc Việt Nam được VCPMC quản lý, khai thác ở 129 quốc gia và vùng lãnh thổ, các tác phẩm âm nhạc của nước ngoài cũng được quản lý, khai thác sử dụng tại Việt Nam thông qua VCPMC.
Thu tiền quyền tác giả âm nhạc của VCPMC trong năm 2022
(Nguồn: website VCPMC)
Thu tiền quyền tác giả âm nhạc của VCPMC trong năm 2023
(Nguồn: website VCPMC)
Có thể thấy xu hướng sử dụng âm nhạc ngày càng nhiều trên môi trường số, thông qua các website, app ứng dụng nhạc. Mặc dù, thu tiền bản quyền từ biểu diễn chiếm khoảng 4% (năm 2023), chiếm 2% (năm 2022, do ảnh hưởng của dịch covid), thu tiền bản quyền từ truyền đạt các buổi biểu diễn trên website, app cũng đóng góp đáng kể trong doanh thu từ truyền đạt website, app. Thu tiền bản quyền thông qua hợp tác, ký kết thỏa thuận đại diện có đi có lại giữa Việt Nam và nước khác trong lĩnh vực quyền tác giả âm nhạc của VCPMC chiếm khoảng 3-4% tổng doanh thu trong năm 2022 và 2023.
RIAV tập hợp các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực sản xuất băng đĩa (ghi âm và hình) ở Việt Nam. Hiện RIAV quản lý cấp phép việc thu tiền khai thác, sử dụng bản ghi thông qua các hợp đồng ủy thác quyền với hội viên, hợp đồng với các đối tác. Tính đến cuối năm 2023, RIAV có 101 hội viên, trong đó có 50 hội viên tổ chức và 51 hội viên cá nhân là nhạc sỹ, ca sỹ. Bản ghi âm nhạc của RIAV tương đối cũ, đến từ hội viên là các đơn vị sản xuất băng đĩa trước đây, nguồn thu chủ yếu đến từ khai thác trên nền tảng Youtube, hầu như không nhiều khai thác trong karaoke, phát sóng. Đây cũng là hạn chế trong hoạt động của RIAV.
APPA là tổ chức đại diện theo ủy quyền nhằm bảo vệ quyền của các nghệ sỹ biểu diễn âm nhạc Việt Nam. Trong năm 2023, APPA có 945 hội viên biểu diễn và chỉ có 85 hội viên biểu diễn ủy quyền, số liệu về các buổi biểu diễn âm nhạc định hình dạng bản ghi đã ủy quyền cho APPA chưa được xác định. Đây là khó khăn của APPA để có thể đàm phán thu tiền bản quyền trong lĩnh vực biểu diễn âm nhạc.
Trong các tổ chức đại diện tập thể, VCPMC là tổ chức có số lượng hội viên, số lượng tác phẩm ủy quyền, số tiền bản quyền thu được từ việc khai thác sử dụng quyền đối với tác phẩm và cũng là tổ chức đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để đo đếm số lượng, số lượt sử dụng tác phẩm âm nhạc được khai thác trên môi trường Internet và mạng viễn thông khác, làm cơ sở để đàm phán cấp phép thu tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc.
Ba tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là VCPMC, RIAV và APPA ký kết, triển khai Chương trình phối hợp, trong đó thống nhất ủy quyền cho VCPMC đàm phán, thu tiền nhuận bút, thù lao từ việc khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình tác phẩm âm nhạc. Tuy nhiên, hoạt động hợp tác này chưa triển khai hiệu quả.
3.2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trên Internet
Cung cấp dịch vụ trung gian trên Internet tại Việt Nam có sự tham gia của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.
Trong nước có nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, từ dịch vụ truy nhập Internet, dịch vụ kết nối Internet; dịch vụ kênh thuê riêng; cho thuê chỗ đặt máy chủ, cho thuê máy chủ dùng riêng; dịch vụ cho thuê chỗ lưu trữ nội dung thông tin số theo yêu cầu; dịch vụ mạng xã hội trực tuyến; dịch vụ tìm kiếm nội dung thông tin số… Tuy nhiên đặc điểm chung của các doanh nghiệp trong nước là cung cấp đồng thời nhiều dịch vụ, từ dịch vụ trung gian để được hưởng miễn trừ trách nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan đến cung cấp nội dung số về tác phẩm, bản ghi âm nhạc trên dịch vụ của mình. Do đó, khó tách bạch yêu cầu được hưởng miễn trừ trách nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan trong thực tiễn hoạt động.
Một số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian của nước ngoài mà người tiêu dùng dịch vụ hoặc người khai thác, sử dụng nội dung thông tin số về tác phẩm, bản ghi âm nhạc tại Việt Nam. Ví dụ Youtube, Tiktok, Facebook…
Nhiều nền tảng số hiện nay áp dụng cơ chế chia sẻ doanh thu từ quảng cáo hoặc cấp phép sử dụng nội dung số về âm nhạc để chi trả cho bên tham gia hợp đồng. Từ đó bên tham gia hợp đồng sẽ tiếp tục chi trả cho các bên tham gia trong chuỗi giá trị ngành âm nhạc được khai thác trên nền tảng số.
3.3. Công ty quản lý quyền về âm nhạc trên nền tảng số là mô hình doanh nghiệp tồn tại bên cạnh mô hình quản lý tập thể quyền. Đây là loại hình mới xuất hiện khi việc sử dụng âm nhạc ngày càng phổ biến trên Internet.
Công ty quản lý quyền về âm nhạc trên nền tảng số tập trung khai thác các quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc trên nền tảng số thông qua việc áp dụng công nghệ vào quản lý quyền, đồng bộ nội dung số theo tiêu chuẩn của từng nền tảng, mã hóa nội dung số âm nhạc thuộc quyền quản lý của mình, làm cơ sở ký kết hợp đồng sử dụng âm nhạc, tìm kiếm, phát hiện việc sử dụng và trả tiền bản quyền, gửi thông báo về việc sử dụng, cảnh báo vi phạm (nếu có) và thực hiện quyền theo quy định của nền tảng...
Cơ sở cho hoạt động của các công ty này là việc quản lý các quyền thông qua hợp đồng ủy quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh với chủ sở hữu nội dung số về âm nhạc hoặc tự quản lý các quyền thuộc sở hữu, sử dụng của mình….
3.4. Công ty chuyên tổ chức biểu diễn âm nhạc là những đơn vị chuyên nghiệp, có chuyên môn về tổ chức sự kiện biểu diễn âm nhạc ở các quy mô khác nhau, có doanh thu, lợi nhuận và tổ chức khai thác hiệu quả hệ sinh thái âm nhạc xung quanh sự kiện biểu diễn âm nhạc. Với tính chuyên nghiệp trong tổ chức biểu diễn âm nhạc làm cho các sự kiện âm nhạc trở nên hấp dẫn, thu hút công chúng, bán vé với doanh thu lớn, bán các sản phẩm có liên quan đến sự kiện âm nhạc cũng như tổ chức các sự kiện liên quan đến buổi biểu diễn âm nhạc đó… Các hoạt động xung quan sự kiện biểu diễn âm nhạc trực tiếp tạo nên hệ sinh thái biểu diễn.
4. Thuận lợi
4.1. Các văn bản về quyền tác giả, quyền liên quan tương đối đồng bộ và ngày càng hoàn thiện, tạo thuận lợi cho hoạt động quản lý, thực thi
Việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan, từ luật đến nghị định, thông tư để nhằm kịp thời cụ thể hóa đường lối, chính sách đề ra tại các văn bản gần đây của Đảng , Nhà nước; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, giải quyết những tồn tại, hạn chế của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan; tiếp cận các xu hướng mới về quyền tác giả, quyền liên quan; triển khai thực hiện các định hướng, chiến lược, mục tiêu quốc gia; thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia.
4.2. Nhận thức, ý thức pháp luật ngày càng được nâng cao
Nhận thức của các cá nhân, đơn vị, tổ chức là tác giả, chủ sở hữu quyền, bên khai thác, sử dụng và người dân về quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc ngày càng được nâng cao và tinh thần tự giác chấp hành ngày càng tốt hơn.
Các nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc, nhà sản xuất, doanh nghiệp dần ý thức hơn trong việc thỏa thuận, ký kết hợp đồng bản quyền và yêu cầu quyền lợi chính đáng khi âm nhạc được khai thác, sử dụng.
4.3. Sự tham gia tích cực của cơ quan nhà nước, đơn vị truyền thông từ trung ương đến địa phương trong hoạt động tuyên truyền pháp luật
Các quy định pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc ngày càng được phổ biến rộng rãi. Các đơn vị báo chí đã triển khai truyền thông qua hàng loạt tin, bài, ảnh báo viết, nói, hình, điện tử về quyền tác giả, quyền liên quan và công nghiệp văn hóa. Các hoạt động hưởng ứng ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26 tháng 4, các hoạt động tuyên truyền nhằm mục đích cho công chúng tìm hiểu về hoạt động bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan được triển khai tích cực tại nhiều nơi.
Tại địa phương, việc hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc, nhắc nhở về việc thực hiện nghĩa vụ quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của pháp luật được chú trọng.
Đối với lĩnh vực kinh doanh dịch vụ karaoke, kinh doanh dịch vụ vũ trường: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Sở Văn hóa và Thể thao chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường thực hiện đúng các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan; tìm đến chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan được ủy quyền để thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền khi sử dụng bản ghi âm nhạc trong hoạt động dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường tại cơ sở kinh doanh.
Đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn: Việc tiếp nhận và thụ lý hồ sơ chấp thuận tổ chức các chương trình biểu diễn nghệ thuật có lồng ghép nội dung tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan cho các chủ thể quyền, cá nhân, tổ chức khai thác, sử dụng tác phẩm trong và ngoài nước; đồng thời phổ biến đến các hội văn học nghệ thuật, các đơn vị nghệ thuật công lập và ngoài công lập, các văn nghệ sĩ về việc thực hiện pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sáng tạo, khai thác các tác phẩm âm nhạc.
Các đài phát thanh, truyền hình ngày càng thực hiện tốt công tác bảo vệ, khai thác tài sản quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc, kiểm soát chặt chẽ các hình ảnh, âm thanh, tư liệu các chương trình phát sóng về âm nhạc trên các kênh truyền hình, hạ tầng internet do đài sản xuất; có văn bản hợp đồng trao đổi, mua bán, khai thác bản quyền chương trình do đài khai thác; ký kết, trả tiền bản quyền sử dụng các tác phẩm theo quy định.
5. Những thách thức
5.1. Một số vấn đề pháp lý đặt ra trong khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc trên môi trường số
- Trong khi quy định hiện hành về tổ chức phát sóng chỉ gói gọn trong khái niệm phát sóng truyền thống. Trong khi tổ chức phát sóng hiện nay không chỉ thực hiện phát sóng về âm nhạc mà còn khai thác chương trình phát sóng và nội dung số về âm nhạc trên các nền tảng mạng xã hội.
- Quy định về các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn bị lợi dụng trên môi trường số, gây khó khăn cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình.
- Một số vấn đề về xu thế phát triển mới về công nghệ liên quan đến đào tạo, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo, sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong sáng tác nhạc… cần được quy định chi tiết, tạo thuận lợi cho thực hiện.
5.2. Việc thực hiện bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc trên môi trường số còn hạn chế
Vẫn còn tình trạng vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc trên không gian mạng. Việc truy cập, phổ biến nội dung trực tuyến đã vô tình tạo điều kiện cho các hành vi sao chép, phát tán không phép các tác phẩm, bản ghi về âm nhạc… gây tổn hại nặng nề về mặt tài chính và quyền lợi của các nhà sáng tạo, các nhà sản xuất.
Đặc biệt, trong bối cảnh về sự phát triển nhanh chóng của Internet, sự ra đời và phát triển của trí tuệ nhân tạo làm xuất hiện nhiều nội dung sáng tạo âm nhạc mới, nhiều cách thức khai thác nội dung quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc bất hợp pháp đang là thách thức về mặt kỹ thuật, công nghệ, pháp lý.
Đối tượng vi phạm có nhiều thủ đoạn đối phó và tìm mọi cách nhằm trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan chức năng (sử dụng các mạng xã hội xuyên biên giới; sử dụng tên miền quốc tế, đăng ký trực tiếp với tổ chức quốc tế ở nước ngoài, sử dụng dịch vụ ẩn giấu thông tin…) để thực hiện các hành vi phạm pháp về xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.
Việc phát hiện, ngăn chặn các đối tượng này gặp nhiều khó khăn do tính chất linh hoạt của trang tin điện tử, mạng xã hội là dễ dàng đăng phát nhưng cũng dễ dàng gỡ bỏ, phi tang chứng cứ; bên cạnh đó là khó khăn trong việc xác định chủ thể của các trang thông tin điện tử sử dụng tên miền quốc tế, dịch vụ lưu trữ dữ liệu có máy chủ đặt tại nước ngoài, người sử dụng mạng xã hội xuyên biên giới (Facebook, TikTok, Instagram, YouTube...). Nhiều trường hợp không xác định được chủ thể, gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý, giám sát hoạt động cũng như xử lý vi phạm.
Trong khi đó, các cơ chế kiểm soát nội dung vi phạm trên nền tảng số chưa đủ mạnh. Do vậy, cần phải sớm bổ sung các quy định mang tính chất đặc thù với việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc trên môi trường số, đảm bảo các biện pháp đủ hiệu quả, đủ sức răn đe và đặc biệt là kịp thời xử lý các hành vi xâm phạm quyền trên môi trường số theo thời gian thực.
Một số doanh nghiệp quản lý quyền tác giả, quyền liên quan về âm nhạc ký các hợp đồng kèm theo tài liệu cấp phép với tên gọi khác nhau, nhưng về bản chất là chứng nhận quyền sử dụng trên mạng thông tin điện tử đối với bản ghi âm nhạc cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ, trong khi được ủy quyền đến đâu, việc cho phép sử dụng có trong phạm vi ủy quyền hay không và mức tiền bản quyền sử dụng là như thế nào.... không có sự giám sát minh bạch thông tin hoạt động.
Việc xây dựng bộ công cụ chuyên nghiệp về giám sát, theo dõi việc sử dụng âm nhạc trên Internet của cơ quan thực thi là cần thiết, nhưng chưa được đầu tư bài bản. Công tác thực thi còn mang tính truyền thống, thủ công, chưa ứng dụng hiệu quả công nghệ số (như fingerprinting, blockchain). Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, tổ chức đại diện tập thể và nền tảng số của nước ngoài còn chưa đáp ứng yêu cầu.
5.3. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng vẫn chưa ý thức đầy đủ về nghĩa vụ quyền tác giả, quyền liên quan
Vẫn còn đối tượng còn biểu hiện né tránh trách nhiệm thực thi quyền tác giả, quyền liên quan hoặc thậm chí vì lợi ích cá nhân mà xâm hại tới quyền lợi hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền.
Một số tác giả, chủ sở hữu quyền về âm nhạc còn chưa nắm vững các quy định pháp luật, chưa chủ động áp dụng các biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
6. Một số đề xuất kiến nghị
6.1. Nâng cao hiệu quả thực thi
Cần thiết xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông về tài sản quyền tác giả, quyền liên quan gồm tác phẩm âm nhạc, bản ghi âm nhạc thuộc ủy quyền của 3 tổ chức quản lý tập thể về âm nhạc, kết nối với các tác phẩm âm nhạc, bản ghi âm nhạc thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân khác; kết nối với các nền tảng khai thác trực tuyến; xây dựng các hệ thống trực tuyến về hỗ trợ phát hiện, theo dõi, tra cứu, cảnh báo, bảo vệ, xử lý vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên không gian số.
Khuyến khích áp dụng các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền cũng như đưa các thông tin quản lý quyền để xác định tác phẩm âm nhạc, bản ghi âm nhạc thông qua việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý bản quyền, ví dụ hệ thống fingerprinting âm nhạc (nhận dạng vân tay số) để theo dõi tác phẩm được sử dụng trên các nền tảng số….
6.2. Tăng cường năng lực của các tổ chức đại diện tập thể quyền về âm nhạc
Tăng cường chất lượng hoạt động chuyên môn của tổ chức đại diện tập thể, đặc biệt là tăng số lượng hội viên và bản ghi âm nhạc, cuộc biểu diễn âm nhạc ủy quyền cho 2 tổ chức Hiệp hội công nghiệp ghi âm và Hội bảo vệ quyền của nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc Việt Nam.
Tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức tương ứng về âm nhạc trong lĩnh vực của mình trên thế giới như JASRAC (Nhật), KOMCA (Hàn Quốc)...
6.3. Về nhận thức và đào tạo
Về tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bản quyền âm nhạc: Xây dựng các chiến dịch truyền thông hướng đến từng nhóm đối tượng từ nghệ sĩ trẻ, nghệ sĩ độc lập, doanh nghiệp giải trí… để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu đưa nội dung bản quyền âm nhạc vào chương trình đào tạo chính quy tại các trường đào tạo âm nhạc và nghệ thuật.
Về đào tạo chuyên sâu cho cán bộ quản lý và nghệ sĩ: Tiếp tục tổ chức tập huấn chuyên sâu về pháp luật và kỹ năng quản lý bản quyền cho công chức quản lý và thực thi về quyền tác giả, quyền liên quan, các hiệp hội nghề nghiệp… về quyền tác giả, quyền liên quan đối với âm nhạc. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình miễn phí về hỗ trợ nghệ sĩ trẻ, nghệ sĩ độc lập về vai trò và sự tham gia chuỗi giá trị ngành công nghiệp âm nhạc, từ đăng ký bản quyền, sáng tác âm nhạc, làm nội dung số về âm nhạc, xây dựng kênh, khai thác bản quyền…
6.4. Về phát triển liên thông thị trường âm nhạc bền vững
Tăng cường ký kết, thực hiện thỏa thuận song phương và đa phương với các tổ chức bản quyền quốc tế; Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhạc sĩ, nghệ sĩ Việt tham gia thị trường âm nhạc quốc tế.
Phát triển thị trường âm nhạc Việt Nam chuyên nghiệp, bền vững, từng bước đưa âm nhạc Việt Nam tham gia các chuỗi sự kiện, festival âm nhạc quốc tế gắn liền với bảo hộ bản quyền âm nhạc.
Hợp tác sản xuất, phân phối âm nhạc trong nước và quốc tế, học hỏi kinh nghiệm quốc tế về mô hình kinh doanh âm nhạc và bản quyền.
Kết luận
Âm nhạc có tác động sâu rộng đến đời sống văn hóa - xã hội và đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế sáng tạo. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và bùng nổ công nghệ số, quyền tác giả và quyền liên quan trở thành nền tảng pháp lý không thể thiếu để bảo đảm sự công bằng, bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ thể sáng tạo và phát triển bền vững ngành công nghiệp âm nhạc.
Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật, tăng cường thực thi, ứng dụng công nghệ, nâng cao nhận thức xã hội, phát triển mô hình kinh doanh sáng tạo và hội nhập quốc tế là những định hướng cần thiết, cấp bách để đưa ngành âm nhạc Việt Nam phát triển bền vững và trở thành một phần quan trọng trong “sức mạnh mềm” quốc gia.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật
1. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước;
2. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
3. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới;
4. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới;
5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;
6. Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
7. Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 20/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tăng cường năng lực quản lý và thực thi có hiệu quả pháp luật bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đến năm 2020, định hướng đến năm 2025
8. Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030
9. Quyết định số 3205/QĐ-BVHTTDL ngày 13/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, gia đình giai đoạn 2021-2026
10. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022
11. Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26/4/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
12. Nghị định số 21/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác
B. Văn kiện pháp lý quốc tế
13. Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật
14. Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng năm 1961
15. Hiệp định TRIPs về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
16. Hiệp ước WCT của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới về quyền tác giả
17. Hiệp ước WPPT của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới về cuộc biểu diễn và bản ghi âm
C. Tài liệu tham khảo khác
18. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, Tìm hiểu về quyền tác giả và quyền liên quan, WIPO Publication No. 909(VN)
19. Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam, “Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2022 của Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam”, 31/1/2023, xem tại https://vcpmc.org/bao-cao-tong-ket-hoat-dong-nam-2022-cua-vcpmc-n2639.html, ngày truy cập 16/9/2025
20. Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam, “Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2023 của VCPMC”, 1/2/2024, xem tại https://www.vcpmc.org/bao-cao-tong-ket-hoat-dong-nam-2023-cua-vcpmc-n2716.html, ngày truy cập 16/9/2025
21. Groove Blog, How Does the Music Industry Work?, 17/5/2023, https://blog.groover.co/en/tips/how-does-the-music-industry-work/, ngày truy cập 16/9/2025.