THỰC TRẠNG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

TS. NGÔ BÌNH NAM GIANG

Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp văn hóa trên phạm vi toàn cầu đã và đang tạo nên những yếu tố đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều quốc gia. Thực tiễn quốc tế cho thấy, những quốc gia gắn công nghiệp văn hóa với thị trường, công nghệ và xuất khẩu thường đạt tăng trưởng cao. Tại Việt Nam, nhận định vai trò quan trọng của các ngành công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số, kỷ nguyên thông minh nên nội dung về phát triển công nghiệp văn hóa đã được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng. Công nghiệp văn hóa đã trở thành một phần quan trọng trong việc khẳng định sức mạnh mềm quốc gia thông qua các sản phẩm mang giá trị tôn vinh văn hóa Việt.

Mở đầu

Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp văn hóa trên phạm vi toàn cầu đã và đang tạo nên những yếu tố đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội và đóng góp vào phát triển kỷ nguyên số ở nhiều quốc gia. Thực tiễn quốc tế cho thấy, những quốc gia gắn công nghiệp văn hóa với thị trường, công nghệ và xuất khẩu thường đạt tăng trưởng cao. Theo UNESCO ước tính khu vực này tạo ra khoảng 2.250 tỷ USD doanh thu mỗi năm. Theo UNCTAD, xuất khẩu dịch vụ sáng tạo toàn cầu đạt khoảng 1,4 nghìn tỷ USD năm 2022 (tăng 29% so với 2017), và tiếp tục tăng lên khoảng 1,5 nghìn tỷ USD năm 2023, chiếm gần 19% tổng xuất khẩu dịch vụ toàn cầu. Xu hướng tăng trưởng được duy trì trong giai đoạn 2024 -2025, với động lực chính từ chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, nền tảng truyền thông và sự mở rộng của kinh tế sáng tạo. Tại Vương quốc Anh, ngành công nghiệp sáng tạo đạt 126 tỷ bảng Anh năm 2022, tăng nhanh hơn mức trung bình của nền kinh tế; tại Singapore, giá trị gia tăng của các ngành liên quan tăng gần 50% trong 5 năm. Ở các nền kinh tế định hướng nội dung số như Trung Quốc và Hàn Quốc số liệu về tăng trưởng thể hiện rõ ràng qua doanh thu, lợi nhuận và xuất khẩu các nội dung số.

Tại Việt Nam, nhận định vai trò quan trọng của các ngành công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số, kỷ nguyên thông minh nên nội dung về phát triển công nghiệp văn hóa đã được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ “Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hoá và dịch vụ văn hoá trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hoá Việt Nam”; Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đề ra mục tiêu “đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo”. Công nghiệp văn hóa đã trở thành một phần quan trọng trong việc khẳng định sức mạnh mềm quốc gia thông qua các sản phẩm mang giá trị tôn vinh văn hóa Việt.

I.   Các ngành công nghiệp văn hóa

Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về “công nghiệp văn hóa”, tuy nhiên hầu hết các quốc gia hiện đều đang thừa nhận và dần khẳng định các ngành công nghiệp cần mang yếu tố sáng tạo và văn hóa. Đặc biệt, trong bối cảnh bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì công nghiệp văn hóa đã và đang thực sự có nhiều cơ hội để phát triển và lan tỏa.

Năm 2007, UNESCO đã đưa ra khái niệm: “Công nghiệp văn hóa là các ngành sản xuất ra những sản phẩm vật thể và phi vật thể về nghệ thuật và sáng tạo, có tiềm năng thúc đẩy việc tạo ra của cải và thu nhập thông qua việc khai thác những giá trị văn hóa và sản xuất những sản phẩm và dịch vụ dựa vào tri thức”. Công nghiệp văn hóa là sự nghiệp kết hợp 3 yếu tố: Sáng tạo, cơ sở hạ tầng và công nghệ sản xuất hiện đại, có thể sản sinh ra các sản phẩm văn hóa, đem lại lợi ích kinh tế.

Việt Nam xác định các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam là những ngành tạo ra các sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân và phù hợp với mục tiêu hội nhập quốc tế, phát triển bền vững đất nước. Các ngành công nghiệp văn hóa gồm 10 ngành/lĩnh vực: (1) Điện ảnh; (2) Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; (3) Nghệ thuật biểu diễn; (4) Phần mềm và các trò chơi giải trí; (5) Quảng cáo; (6) Thủ công mỹ nghệ; (7) Du lịch văn hóa; (8) Thiết kế sáng tạo; (9) Truyền hình và phát thanh; (10) Xuất bản.[1]

THỰC TRẠNG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ - ảnh 1
Chương trình biểu diễn nghệ thuật thực cảnh - KÝ ỨC HỘI AN
Ảnh: Nam Giang

II.     Thực trạng các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

1.  Một số kết quả đạt được

Công nghiệp văn hóa đang trở thành xu hướng và được xác định là phần quan trọng, bền vững, đóng góp vào sự tăng trưởng của đất nước. Qua số liệu ước tính, giá trị tăng thêm (giá hiện hành) của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp vào nền kinh tế năm 2018 ước đạt 5,82%; năm 2019 ước đạt 6,02%; năm 2020 và 2021 do ảnh hưởng của đại dịch nên số liệu có sự sụt giảm chỉ còn khoảng 4,32% và 3,92%; đến năm 2022 các ngành đã bắt đầu phục hồi và giá trị đóng góp có sự tăng trưởng ước đạt 4,04%; năm 2023 ước đạt 4,98%; năm 2024 ước đạt 5,09%. Giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2018 - 2022 ước bình quân đạt 1,059 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 44 tỷ USD) [2], năm 2023 ước đạt 1,227 triệu tỷ đồng và năm 2024 ước đạt 1,394 triệu tỷ đồng[3].

Giai đoạn 2018-2022, bình quân 5 năm tốc độ tăng trưởng về số lượng các cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa đạt 7,21%/năm[4]. Đến năm 2024 số lượng cơ sở ước đạt 77.191 cơ sở, thu hút lực lượng lao động trung bình khoảng 1,7 triệu đến 2,3 triệu người trong giai đoạn 2018-2024.

Bình quân 5 năm tốc độ tăng trưởng về giá trị xuất khẩu trong các ngành công nghiệp văn hóa đạt 4,3%/năm, chiếm khoảng 16,2% giá trị xuất khẩu của cả nước năm 2022. Theo dữ liệu của Mạng lưới Không gian Sáng tạo Việt Nam, tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng gần 200 không gian văn hoá sáng tạo (con số này chưa bao gồm toàn bộ các không gian làm việc chung và hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo). TP. Hà Nội có 95 không gian, TP. Hồ Chí Minh có 51 không gian, còn lại các không gian nằm rải rác ở các tỉnh, thành phố trên cả nước. Do đặc điểm phát triển và thuận lợi cho việc thu hút các nguồn lực mà hiện nay đa số các không gian sáng tạo tập trung ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Số lượng không gian sáng tạo tăng lên nhanh chóng thể hiện sự phát triển của cộng đồng người làm sáng tạo.

Đánh giá chung, công nghiệp văn hóa là lĩnh vực mới, có dư địa phát triển ngày càng mạnh mẽ trong xu thế toàn cầu hiện nay, nhất là nhóm ngành có lợi thế và xu thế phát triển mạnh của Việt Nam trong kỷ nguyên số. Việt Nam đang trong giai đoạn dân số vàng, lực lượng lao động sáng tạo trẻ, có chuyên môn, kỹ năng kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc, tiêu biểu của Việt Nam. Giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu đối với các sản phẩm công nghiệp văn hóa tăng tương đối nhanh trong thời gian gần đây. Các sản phẩm công nghiệp văn hóa góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.

THỰC TRẠNG CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ - ảnh 2
Ảnh: Nam Giang

2.  Khó khăn, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, các ngành công nghiệp văn hóa còn gặp phải những khó khăn, hạn chế, trong đó cần đề cập những vấn đề sau:

Một là, hiện nay chưa có văn bản pháp luật quy định rõ vai trò quản lý nhà nước, trách nhiệm, quyền hạn của các bộ, ngành và địa phương trong việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về công nghiệp văn hoá. Đồng thời, thiếu các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp về thu hút nguồn vốn, phát triển nguồn lực để hỗ trợ, thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển toàn diện trên cả nước nói chung, và ở từng địa phương nói riêng.

Hai là, công tác thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu cho các ngành công nghiệp văn hóa còn gặp nhiều vấn đề vướng mắc về quy định pháp lý (chưa có Chỉ số thống kê về các ngành công nghiệp văn hoá). Thống kê của các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan có liên quan mới chỉ đáp ứng yêu cầu báo cáo phục vụ công tác quản lý, chưa được thực hiện toàn diện, đầy đủ và thường xuyên dẫn đến việc đề xuất giải pháp phát triển của từng lĩnh vực chưa bám sát thực tế.

Ba là, nguồn lực đầu tư còn dàn trải, chưa tập trung phát triển một số lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm có lợi thế, tiềm năng nhằm tạo ra các sản phẩm chủ lực, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Mức đầu tư cho văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế.

Bốn là, thiếu cơ chế hỗ trợ phát triển thị trường, mặc dù các doanh nghiệp và nghệ nhân tại địa phương có tiềm năng sáng tạo lớn, nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường, đặc biệt là các sản phẩm văn hóa địa phương.

Năm là, công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chưa hiệu quả, tình trạng sao chép bất hợp pháp các sản phẩm văn hóa vẫn diễn ra phổ biến, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp sáng tạo. Thiếu sự kết hợp chặt chẽ giữa sáng tạo, công nghệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã hạn chế khả năng thu hút các nguồn lực đầu tư và sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa. Ở Việt Nam hiện nay vấn đề vi phạm và xâm phạm, đặc biệt là vi phạm trên môi trường số đã tác động trực tiếp đến những người làm sáng tạo, đồng thời ảnh hưởng đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư tham gia vào chuỗi sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa. 

III.  Đề xuất nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Với các tiềm năng và điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm và đóng góp 7% GDP của đất nước; lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp văn hóa bình quân tăng 10%/năm, chiếm tỷ trọng 6% trong tổng lực lượng lao động của nền kinh tế; tốc độ tăng trưởng về số lượng các cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa bình quân đạt 10%/năm; tốc độ tăng trưởng về giá trị xuất khẩu của các ngành công nghiệp văn hóa bình quân đạt 7%/năm.[5]

Trong giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được xác định là yếu tố trọng tâm thúc đẩy sự phát triển đột phá của các quốc gia, Việt Nam đứng trước yêu cầu cần có chủ trương, quyết sách mạnh mẽ mang tính chiến lược và cách mạng để tạo xung lực mới, kết nối thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường.

Đề xuất nhóm giải pháp để thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến các ngành công nghiệp văn hóa. Đây là khâu đột phá mang tính dẫn dắt. Các cơ quan cần rà soát, tham mưu về việc sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới hệ thống pháp luật liên quan đến công nghiệp văn hóa theo hướng đồng bộ, hiện đại, tiệm cận thông lệ quốc tế. Trọng tâm là nghiên cứu, đề xuất xây dựng Luật Công nghiệp văn hóa, Luật Bản quyền tác giả và hoàn thiện pháp luật chuyên ngành. Đề xuất việc điều chỉnh các chính sách về thuế, đầu tư, đất đai, tín dụng, hợp tác công - tư; thí điểm cơ chế sử dụng tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm sẽ từng bước tạo hành lang thuận lợi thu hút doanh nghiệp tham gia cung ứng, sản xuất các sản phẩm công nghiệp văn hóa.

Thứ hai, thiết lập hệ thống đo lường thống nhất đối với các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Xây dựng và ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia về công nghiệp văn hóa gắn với cơ sở dữ liệu số ngành, đo lường đầy đủ đóng góp vào GDP, việc làm, doanh thu, xuất khẩu và mức tiêu dùng văn hóa… Hệ thống đo lường là yếu tố quan trọng đối với việc đánh giá hiệu quả quản trị ngành nói chung và các ngành công nghiệp văn hóa nói riêng.

Thứ ba, chuẩn hóa các tiêu chuẩn và định mức. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật và chuẩn nghề nghiệp cho từng lĩnh vực để làm cơ sở minh bạch hóa chi phí, định giá sản phẩm, phân chia lợi ích và nâng cao tính chuyên nghiệp của thị trường.

Thứ tư, phát triển hạ tầng thị trường văn hóa hiện đại. Thúc đẩy hình thành sàn giao dịch bản quyền và sản phẩm công nghiệp văn hóa; phát triển cơ chế định giá tài sản trí tuệ; hoàn thiện hệ sinh thái phân phối số, thanh toán điện tử và hệ thống bảo vệ quyền tác giả hiệu quả.

Thứ năm, bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch. Tiếp tục cắt giảm rào cản hành chính, loại bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù hợp; kiến tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa khu vực công và tư, giữa doanh nghiệp lớn và startup sáng tạo.

Thứ sáu, xây dựng thương hiệu quốc gia và phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa, đưa sản phẩm công nghiệp văn hóa tham gia sâu hơn vào thị trường khu vực và toàn cầu.

Thứ bảy, tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm sáng tạo, đặc biệt đối với các sản phẩm trên môi trường số để đảm bảo quyền lợi cho cá nhân sáng tạo và nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các sản phẩm công nghiệp văn hóa của Việt Nam trên thế giới./.

                                                                                                           TS. Ngô Bình Nam Giang

 


[1] Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

[2] Số liệu do Tổng Cục thống kê cung cấp cho Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam (ngày 22/12/2023).

[3] Số liệu do Cục thống kê cung cấp.

[4] Số liệu do Tổng Cục thống kê cung cấp cho Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam (ngày 22/12/2023).

[5] Quyết định 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.