COV - Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quyết liệt và liên tục giữa các quốc gia thông qua sức mạnh mềm, công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa góp phần gìn giữ, lan tỏa giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc.
Ảnh: Báo điện tử Kinh tế - Tài chínhNhận thức rõ vai trò đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hội nhập quốc tế, gắn kết chặt chẽ giữa sáng tạo văn hóa với thị trường.
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã xác định rõ quan điểm: phát triển có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, đồng thời tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực có tiềm năng tạo giá trị gia tăng cao, khả năng lan tỏa mạnh và tác động tích cực đến nhiều ngành, lĩnh vực khác của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, 06 ngành công nghiệp văn hóa gồm điện ảnh; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và các trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa được lựa chọn là các lĩnh vực ưu tiên phát triển trong giai đoạn tới.
Việc tập trung phát triển 06 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm không chỉ nhằm khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống, di sản và sức sáng tạo của con người Việt Nam, mà còn hướng tới hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đồng bộ, gắn kết giữa sáng tạo – sản xuất – phân phối – tiêu dùng. Thông qua hệ thống nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, Chiến lược đặt mục tiêu tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, nguồn lực, hạ tầng, nhân lực và công nghệ, qua đó tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể tham gia phát triển công nghiệp văn hóa một cách bền vững.
Từ hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; đến mở rộng thị trường trong nước và quốc tế, các nhiệm vụ và giải pháp đối với từng lĩnh vực được thiết kế theo hướng cụ thể, khả thi, phù hợp với đặc thù từng ngành. Đây được xem là nền tảng quan trọng để chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển, góp phần nâng cao vị thế quốc gia và khẳng định thương hiệu văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Bình luận về nội dung của từng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm
Bình luận 1
Ảnh: Báo Điện tử Chính phủLĩnh vực điện ảnh
- Khẩn trương hoàn thiện để bảo đảm đồng bộ các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách trong hợp tác đầu tư sản xuất, phát hành và phổ biến phim truyện, phim hoạt hình (trong đó có phim do Nhà nước đặt hàng, phổ biến phim trên không gian mạng). Nghiên cứu việc áp dụng chính sách ưu đãi thuế đối với sản phẩm phim, chính sách thuế phù hợp đối với doanh nghiệp, tổ chức xã hội tham gia tài trợ cho hoạt động sản xuất, phát hành, phổ biến phim truyện, phim hoạt hình. Quy định phù hợp về thuế sử dụng đất cho các cụm rạp nằm trong khu thương mại và khu phức hợp; xem xét điều chỉnh nâng tỷ lệ quy định phim Việt Nam trên hệ thống phân phối của các nhà phát hành.
- Xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất phim sử dụng ngân sách Nhà nước. Đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ (mặt bằng, cơ sở lưu trú…) cho các đoàn làm phim. Xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm thu hút các đạo diễn, biên kịch, quay phim… có trình độ cao tham gia vào hoạt động sản xuất phim tại Việt Nam.
- Xây dựng kế hoạch, tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên sâu về biên kịch, đạo diễn, diễn viên, quay phim, thiết kế mỹ thuật, âm nhạc, hóa trang, phục trang, kỹ xảo, công nghệ, lý luận phê bình, sản xuất phim, phát hành phim, quản lý điện ảnh… đáp ứng nhu cầu phát triển của công nghiệp điện ảnh trong thời kỳ mới.
- Xây dựng trường quay quốc gia có bối cảnh nội, ngoại, dưới nước với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, bảo đảm đáp ứng nhu cầu phục vụ khâu kỹ thuật tiền kỳ, hậu kỳ trong sản xuất phim theo công nghệ hiện đại. Các địa phương tập trung nguồn lực, khai thác tiềm năng, ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, di sản để phát triển trường quay; hình thành không gian sáng tạo, thu hút các nhà sản xuất phim trong nước, quốc tế thực hiện các dự án phim và phát triển du lịch.
- Tổ chức thường niên, có chọn lọc các sự kiện điện ảnh quy mô quốc gia, quốc tế. Có cơ chế khuyến khích các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế ngoài nhà nước tham gia phối hợp tổ chức các sự kiện, xây dựng thương hiệu quảng bá để sự kiện trở thành điểm đến tham dự của các nhà sản xuất, nhà làm phim, nghệ sĩ nổi tiếng trong nước và quốc tế.
- Liên kết các đơn vị sản xuất phim hoạt hình ở Việt Nam, hình thành liên minh sáng tạo nội dung số để sản xuất các bộ phim hoạt hình có chất lượng cao, cạnh tranh với thị trường quốc tế.
- Tăng cường các hoạt động quảng bá, xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam trên các nền tảng số để thu hút các hãng phim, nhà sản xuất phim nổi tiếng trên thế giới tới Việt Nam đầu tư, phát triển ngành công nghiệp điện ảnh.
- Khuyến khích các sản phẩm điện ảnh sử dụng, khai thác các giá trị văn hóa để tạo ra các sản phẩm giải trí chất lượng cao, các chương trình thực tế, nội dung số đáp ứng nhu cầu giải trí của người dân.
- Phát triển các địa điểm, khu vực được lựa chọn làm bối cảnh quay phim thành điểm đến du lịch, góp phần phát triển hệ sinh thái các ngành công nghiệp văn hóa, giải trí của địa phương.
Bình luận 2
Ảnh: Báo Điện tử Nhân DânLĩnh vực nghệ thuật biểu diễn
- Nghiên cứu, xây dựng chính sách thuế phù hợp đối với doanh nghiệp, tổ chức xã hội tham gia tài trợ cho hoạt động sáng tác, dàn dựng, tổ chức các sự kiện âm nhạc; cơ chế, chính sách hỗ trợ (địa điểm, bảo đảm an ninh, an toàn…) để tổ chức các chương trình và sự kiện âm nhạc quy mô lớn; chính sách thuế phù hợp đối với các loại hình múa rối, nghệ thuật dân gian phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế. Có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật với các tổ chức, doanh nghiệp trong việc liên kết, hợp tác, kết nối và kinh doanh.
- Xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, nhà sản xuất, tác giả, đạo diễn, nghệ sĩ tài năng tham gia sản xuất các tác phẩm, chương trình âm nhạc có chất lượng cao tại Việt Nam và đưa các nhóm nhạc Việt Nam tham dự các sự kiện âm nhạc có thương hiệu uy tín trong khu vực và quốc tế.
- Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, nhà sản xuất âm nhạc tổ chức đào tạo ở trong nước hoặc liên kết với các đơn vị quốc tế có uy tín đào tạo nghệ sĩ, ban nhạc Việt đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, kỹ năng, thị hiếu để biểu diễn ở thị trường quốc tế.
- Rà soát, đề xuất theo thẩm quyền việc hoàn thiện các quy định liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công, hợp tác công - tư phù hợp thực tiễn để khai thác, sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, phục vụ tổ chức các chương trình biểu diễn, sự kiện âm nhạc.
- Tổ chức các chương trình, hoạt động nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp (cuộc thi, gala âm nhạc, chương trình nghệ thuật, sáng tác, trình diễn…) góp phần phát triển tài năng, khẳng định thương hiệu của các ban nhạc, nhóm nhạc trẻ của Việt Nam.
- Áp dụng các công nghệ hiện đại để gia tăng giá trị trải nghiệm, tiêu dùng của công chúng đối với các sản phẩm âm nhạc trên các nền tảng số phục vụ nhu cầu giải trí của người dân. Xây dựng hạ tầng công nghệ trong hoạt động quảng bá và nâng cấp dịch vụ bán vé, áp dụng phương thức đặt chỗ trực tuyến thông qua hệ thống thanh toán trên môi trường mạng.
- Ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để nghiên cứu sản xuất, cung ứng các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tạo điều kiện thuận lợi để nhập khẩu trang thiết bị hiện đại, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị cho các chương trình, sản phẩm công nghiệp văn hóa, giải trí của người Việt.
Bình luận 3
Ảnh: Báo Điện tử Thanh niênLĩnh vực phần mềm và các trò chơi giải trí
- Rà soát, nghiên cứu, hoàn thiện các quy định, cơ chế, chính sách nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động cung cấp phần mềm và các trò chơi giải trí; cải thiện môi trường, điều kiện kinh doanh, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường; có ưu đãi phù hợp về vốn, thuế, khuyến khích sáng tạo đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, các doanh nghiệp đăng ký đầu tư, sản xuất tại Việt Nam trong lĩnh vực phần mềm và các trò chơi giải trí.
- Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về quản lý tài sản số. Xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất game ứng dụng công nghệ mới, như: Blockchain, Metaverse (Vũ trụ ảo)… để xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
- Hình thành hệ sinh thái nền tảng số Việt Nam, đáp ứng cơ bản yêu cầu chuyển đổi số, tạo lập cơ hội cho doanh nghiệp xuất khẩu phần mềm. Khuyến khích, tạo điều kiện hình thành những “kỳ lân công nghệ”, doanh nghiệp phần mềm lớn để dẫn dắt thị trường, cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
- Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, được đào tạo chính quy, chuyên sâu về phần mềm và các trò chơi giải trí, đáp ứng nhu cầu về nhân sự sản xuất và phát hành trò chơi điện tử của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Xây dựng và ban hành mã ngành, mã nghề, chương trình đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp trò chơi điện tử trên mạng, tập trung vào lĩnh vực thiết kế, lập trình, đồ họa, quản trị cho dự án game.
- Thúc đẩy xây dựng kho ứng dụng của Việt Nam để mở rộng kênh phân phối cho các doanh nghiệp phát hành trò chơi điện tử trên mạng nhằm giảm sự phụ thuộc vào các kho ứng dụng nước ngoài.
- Thúc đẩy thành lập Trung tâm khởi nghiệp sáng tạo ngành phần mềm, trung tâm hợp tác phát triển trò chơi điện tử của Việt Nam (ngành công nghiệp game Việt Nam) để tăng cường nghiên cứu, nắm bắt các xu hướng phát triển trên thế giới, thúc đẩy phát triển tài năng và nguồn nhân lực công nghệ cao; hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức phát triển các game Việt, trao đổi công nghệ và hợp tác quốc tế.
- Tăng cường quản lý hiệu quả về thời gian, độ tuổi chơi, nội dung phát hành tại Việt Nam để hạn chế tác động tiêu cực của game với giới trẻ. Tăng cường công tác quản lý, rà quét, phát hiện và ngăn chặn trò chơi điện tử trên mạng vi phạm pháp luật, đặc biệt là các trò chơi phát hành xuyên biên giới vào Việt Nam.
- Xây dựng cơ chế hợp tác giữa các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các doanh nghiệp sản xuất, phát hành game để tư vấn chương trình đào tạo; tiếp nhận sinh viên thực tập, hỗ trợ, tư vấn cho các sinh viên có định hướng khởi nghiệp trong ngành game. Đầu tư xây dựng, nâng cấp trang thiết bị học tập liên quan đến ngành game; tăng cường hợp tác với các tập đoàn, doanh nghiệp lớn về công nghệ trên thế giới để hỗ trợ đào tạo, ưu tiên hình thức đào tạo trực tuyến.
- Thúc đẩy các trò chơi giải trí gắn với các môn thể thao điện tử (e-Sport) để tăng cường tính trải nghiệm trên môi trường số và cung ứng đa dạng các loại sản phẩm giải trí cho người dân.
Bình luận 4
Ảnh: uniquevietnam.vnLĩnh vực quảng cáo
- Tiếp tục triển khai Chương trình thương hiệu quốc gia Việt Nam từ năm 2020 đến năm 2030, trong đó triển khai hiệu quả Đề án xây dựng, quảng bá thương hiệu quốc gia “Giải thưởng quảng cáo sáng tạo Việt Nam” và các đề án, chương trình liên quan.
- Hoàn thiện quy định về quảng cáo ngoài trời tại các địa phương trên toàn quốc để tạo không gian, nguồn tài nguyên (quỹ đất) và chủ động có kế hoạch triển khai thực hiện.
- Quy định rõ các điều kiện, yêu cầu đặc thù của loại hình quảng cáo trên môi trường số, quảng cáo xuyên biên giới; ban hành các chế tài nhằm ngăn chặn, gỡ bỏ quảng cáo vi phạm pháp luật, chống thất thu thuế, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng; cân nhắc thời lượng quảng cáo dành cho người yếu thế, trẻ em, người cao tuổi, người có nhược điểm về thể chất, tinh thần.
- Đáp ứng mục tiêu quản lý nghiêm hoạt động quảng cáo, bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng với việc thúc đẩy sự phát triển của ngành quảng cáo trong kỷ nguyên mới; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Tuân thủ quy định về tỷ lệ diện tích, thời lượng, nội dung quảng cáo và bảo đảm công khai, minh bạch nội dung này để người dân, doanh nghiệp lựa chọn.
- Đẩy mạnh thu hút nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo nhân lực chuyên nghiệp, chất lượng cao cho ngành quảng cáo để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghệ số và đổi mới sáng tạo. Có chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Xây dựng các chính sách ưu đãi phù hợp để khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước tăng cường đầu tư vào các hoạt động sáng tạo văn hóa, sản xuất nhiều sản phẩm quảng cáo chất lượng, mang giá trị văn hóa Việt Nam.
- Đẩy mạnh các hoạt động chuyển giao và ứng dụng công nghệ tiên tiến tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo.
- Nghiên cứu, áp dụng cơ chế tài trợ, đấu thầu và khai thác quảng cáo ngoài trời theo quy định của pháp luật.
- Xây dựng các bộ ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp và tiêu chuẩn cho ngành quảng cáo nói chung và quảng cáo số nói riêng.
- Hình thành và phát triển hệ sinh thái quảng cáo số lành mạnh, an toàn, bền vững; xây dựng cộng đồng có trách nhiệm để thúc đẩy, định hướng hoạt động sáng tạo nội dung số; khuyến khích, tạo điều kiện cho các nền tảng quảng cáo số Make in Vietnam, các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam phát triển, tìm kiếm cơ hội xuất khẩu sản phẩm quảng cáo ra thị trường khu vực và toàn cầu.
Bình luận 5
Ảnh: Báo Điện tử Chính phủ - Chuyên trang Thủ đô Hà NộiLĩnh vực thủ công mỹ nghệ
- Triển khai có hiệu quả Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm (OCOP)” gắn với hoạt động truyền thông sản phẩm công nghiệp văn hóa của địa phương. Thực hiện sưu tầm, thu thập, bảo tồn bí quyết, công nghệ cổ truyền tinh xảo, độc đáo, các mẫu hoa văn truyền thống trên các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và có hướng đổi mới, phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại áp dụng phù hợp với sản xuất tại làng nghề.
- Đa dạng hóa sản phẩm có tính cạnh tranh cao, thay đổi mẫu mã, thiết kế sản phẩm, bao bì, nhãn mác có yếu tố văn hóa truyền thống để tôn vinh, quảng bá văn hóa Việt Nam. Chú trọng tìm hiểu kỹ về đặc điểm của thị trường kết hợp với ý tưởng độc đáo, sáng tạo, tôn vinh các giá trị truyền thống, lồng ghép các yếu tố văn hóa Việt Nam vào thiết kế các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Phát triển các chuỗi sản phẩm quà lưu niệm nhằm phục vụ du khách trong nước và quốc tế.
- Phát triển các thương hiệu sản phẩm chủ lực gắn với văn hóa địa phương, vùng, miền nhằm tăng khả năng nhận diện và cạnh tranh trên thị trường. Khuyến khích doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mang giá trị văn hóa dân tộc, đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, hình thức; định hình thị hiếu cho thị trường nội địa, khuyến khích người Việt dùng hàng Việt; tôn vinh các giá trị truyền thống, lồng ghép các yếu tố văn hóa Việt Nam vào thiết kế và sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống.
- Tăng cường xúc tiến thương mại, giới thiệu, quảng bá các sản phẩm thủ công mỹ nghệ để tiêu thụ sản phẩm ở thị trường trong và ngoài nước. Liên kết phát triển các trung tâm văn hóa Việt Nam tại các quốc gia nhằm giới thiệu văn hóa, nghệ thuật, trưng bày và tạo cầu nối, mở rộng thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam.
- Phát triển các doanh nghiệp hàng thủ công mỹ nghệ quy mô lớn ở một số vùng, miền có đủ khả năng cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu sản xuất và xuất khẩu của các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia; định hướng và hỗ trợ các công ty xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tham gia vào phân khúc thị trường cao cấp.
- Hỗ trợ thành lập các trung tâm sản xuất hàng thủ công chủ lực của Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn về phát triển sản phẩm. Chú trọng xây dựng vùng nguyên liệu, sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường (vật liệu xanh); đào tạo lao động, chuyển giao công nghệ và xúc tiến thương mại.
- Hỗ trợ cộng đồng sáng tạo, nghệ nhân làng nghề, các chủ thể văn hóa bản địa tham gia sản xuất, cung ứng các sản phẩm công nghiệp văn hóa. Thực hiện chính sách hỗ trợ đối với đội ngũ kế thừa, bảo tồn và phát huy nghề thủ công truyền thống; tôn vinh, duy trì và phát triển đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi để tạo nòng cốt thúc đẩy công tác đào tạo, truyền nghề; bảo tồn, phát triển kỹ năng nghề truyền thống. Thúc đẩy sáng tạo các sản phẩm mới có chất lượng cao, tạo sự quảng bá mạnh mẽ các giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam. Tổ chức các hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam, festival quảng bá và phát triển làng nghề.
Bình luận 6
Ảnh: Báo Phụ nữ Việt NamLĩnh vực du lịch văn hóa
- Xây dựng, hình thành và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa, trong đó chú trọng thông qua thúc đẩy hợp tác công - tư nhằm tạo ra các sản phẩm mang tính đặc trưng, riêng biệt, cá biệt hóa, bản sắc vùng, miền, tăng giá trị trải nghiệm của du khách và kết nối với các ngành công nghiệp văn hóa, phù hợp với nhu cầu thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước, quốc tế và đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững.
- Tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh và sự phong phú, đa dạng của ẩm thực Việt Nam (nhất là các món ăn được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia) để xây dựng thương hiệu ẩm thực Việt Nam quảng bá ra thế giới và phát triển du lịch văn hóa. Tổ chức các sự kiện, lễ hội ẩm thực nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa của vùng, miền, địa phương.
- Phát triển du lịch văn hóa gắn với các thành phố nằm trong Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO ở Việt Nam. Khai thác các yếu tố đặc trưng, lồng ghép các yếu tố sáng tạo, công nghệ để hình thành các loại hình sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo.
- Nâng cao hiệu quả đào tạo của các cơ sở, trường đào tạo nghề du lịch tại địa phương, chú trọng đào tạo về kiến thức văn hóa, kỹ năng hướng dẫn thuyết trình về văn hóa bản địa nhằm nâng cao chất lượng hướng dẫn viên du lịch.
- Tăng cường khai thác các giá trị di sản văn hoá truyền thống trong phát triển du lịch văn hoá. Xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa 3D di sản văn hóa, ứng dụng công nghệ kỹ thuật số để tạo dựng không gian trải nghiệm du lịch văn hóa đa dạng. Hình thành các tour, tuyến du lịch văn hóa đến các vùng, miền có sản phẩm đặc trưng, tiêu biểu, như: Sâm Việt Nam, trà, cà phê, gốm, sứ, mây, tre... và đưa ý nghĩa văn hóa, lịch sử vào sản phẩm để gia tăng giá trị cho hàng hóa, dịch vụ nhằm quảng bá thương hiệu quốc gia.
- Tăng cường các sản phẩm công nghiệp văn hóa tại các khu, điểm du lịch gắn với hoạt động thể thao và giải trí dựa trên khai thác văn hóa bản địa của từng địa phương; quản lý hoạt động, dịch vụ tại các khu vui chơi, giải trí ban đêm, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn, đúng quy định.