Ngày 17/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 287/2026/NĐ-CP Quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản với 7 Chương, 21 Điều.
Trong đó, Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số 93/2025/QH15 và Luật số 131/2025/QH15 được giao tại khoản 4 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ.
Nghị định áp dụng cho các đối tượng: Tổ chức, cá nhân sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước; tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý. Cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý trong trường hợp Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ. Và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến các hoạt động quy định.
Chương trình biểu diễn nghệ thuật (ảnh minh họa)Theo Nghị định 287/2026/NĐ-CP, việc trả tiền bản quyền được thực hiện theo quy định chung như sau:
Tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước quy định tại điểm a khoản 1 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ thực hiện theo quy dịnh của pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu và quy định của Nghị định này.
Tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý thực hiện theo thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý và bên khai thác, sử dụng trên cơ sở quy định của pháp luật về quyển tác giả, quyền liên quan, quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan.
Tiền bản quyền khuyến khích là khoản tiền bản quyền được trả thêm cho tác giả, chức danh sáng tạo khác thuộc một trong các trường hợp sau đây: Thuộc đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số; thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống có xác định các giả; thuộc loại hình giao hưởng, Opera, kịch múa (ba lê), xiếc; thuộc thể loại phóng sự điều tra, dành cho người khuyết tật và được quy định cụ thể tại các Chương II, IV, V và VI của Nghị định này; Tác giả là công dân Việt Nam sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng nước ngoài; tác giả là người dân tộc Kinh sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số này sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng dân tộc thiểu số khác hoặc sáng tạo, nói, viết trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm và được quy định cụ thể tại các Chương V và VI của Nghị định này. Quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là dại diện chủ sở hữu được khai thác, sử dụng và cơ quan đại diện chủ sở hữu thu được lợi nhuận thì tác giả, chức danh sáng tạo khác đối với tác phẩm được hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích theo thỏa thuận trên cơ sở đóng góp nhưng tổng số không quả 10% lợi nhuận thu được. Thời điểm xác định lợi nhuận thực hiện theo năm tài chính hoặc theo đợt khai thác, sử dụng, căn cứ vào báo cáo quyết toán tài chính của các bên.
Nghị định cũng quy định rõ, việc phân chia tiền bản quyền giữa các tác giả, các chủ sở hữu quyền tác giả, các người biểu diễn, các chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 12a, các khoản 1, 2 Điễu 442 của Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 134/2026/NĐ-CP.
Trường hợp làm tác phẩm phái sinh thì chủ sở hữu quyền tác giả của một hoặc nhiều tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh được hưởng một phần trên tổng số tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo, khai thác, sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh.
Việc trả tiền bản quyền khai thác, sử dụng thực hiện theo một hoặc một số phương thức thanh toán sau đây: Thanh toán một lần cho toàn bộ việc khai thác, sử dụng; Thanh toán theo từng lần khai thác, sử dụng; Thanh toán định kỳ theo tháng, quý, năm; Các phương thức thanh toán khác do các bên thỏa thuận phù hợp với tính chất của việc khai thác, sử dụng và quy định của pháp luật.
Trên cơ sở quy định của Nghị định này, mức cụ thể tiền bản quyền, tiền bản quyền khuyến khích (nếu có): trong trường hợp sáng tạo do cơ quan, người có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, ngân sách nhà nước, giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan. Còn trong trường hợp khai thác, sử dụng do cơ quan, người có thẩm quyền quyết định theo quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Nghị định số 17/2023/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 134/2026/NĐ-CP.
Trên cơ sở quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan, tổ chức, cá nhân lập dự toán, thanh toán và quyết toán kinh phí trả tiền bản quyền, tiền bản quyền khuyến khích trong phạm vi nguồn ngân sách nhà nước và nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp, thu từ việc cho phép khai thác, sử dụng các quyền tác giả, quyền liên quan, nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân và các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật khác có liên quan.
Nghị định gồm 7 Chương, trong đó, từ Chương II đến Chương VI quy định chi tiết về Tiền bản quyền trong lĩnh vực điện ảnh; Tiền bản quyền trong lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh; Tiền bản quyền trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; Tiền bản quyền trong lĩnh vực báo chí; Tiền bản quyền trong lĩnh vực xuất bản.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026, kể từ ngày Nghị định mới có hiệu lực, các Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ngày 14/3/2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản và Nghị định số 21/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác hết hiệu lực thi hành.
Chi tiết Nghị định số 287/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản.