COV -Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ với tỷ lệ tán thành cao. Việc ban hành Luật mới không chỉ nhằm hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, mà còn thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý, khai thác và phát huy giá trị tài sản trí tuệ trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Ảnh: Trung tâm Truyền thông Khoa học & Công nghệTrước hết, Luật sửa đổi làm rõ và thống nhất khái niệm quyền sở hữu trí tuệ, khẳng định đây là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các đối tượng thuộc ba nhóm quyền cơ bản gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Việc chuẩn hóa khái niệm mang ý nghĩa nền tảng, tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Cùng với đó, khái niệm kiểu dáng công nghiệp được mở rộng theo hướng tiếp cận hiện đại, bao gồm cả hình dáng bên ngoài của sản phẩm dưới dạng vật lý và phi vật lý. Kiểu dáng công nghiệp có thể được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố này và được nhìn thấy trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm. Quy định này phản ánh đúng thực tiễn phát triển của các sản phẩm số, sản phẩm sáng tạo trong không gian mạng, đồng thời mở rộng không gian bảo hộ cho các ngành công nghiệp sáng tạo.
Một điểm mới có ý nghĩa đặc biệt là việc Luật bổ sung quy định về phát sinh và xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo. Theo đó, căn cứ vào các nguyên tắc chung của Luật, Chính phủ được giao quy định chi tiết nhằm bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu khuyến khích đổi mới sáng tạo và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan trong kỷ nguyên công nghệ số.
Luật sửa đổi tiếp tục khẳng định các nguyên tắc cơ bản trong việc khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, việc thực hiện quyền không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Đặc biệt, việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng các biểu tượng thiêng liêng của quốc gia. Trong những trường hợp cần thiết vì mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích xã hội, Nhà nước có quyền hạn chế hoặc buộc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ với những điều kiện phù hợp theo quy định của pháp luật.
Luật cũng bổ sung các quy định nhằm xử lý hài hòa trường hợp một đối tượng có nhiều quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập, bảo đảm việc thực hiện quyền phát sinh sau không mâu thuẫn với quyền đã được xác lập trước đó. Đồng thời, lần đầu tiên Luật cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố để phục vụ nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo, với điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả và chủ sở hữu quyền.
Về chính sách của Nhà nước, Luật sửa đổi nhấn mạnh việc khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, khai thác và phát triển đối tượng quyền sở hữu trí tuệ thông qua các biện pháp hỗ trợ về tài chính, thuế, tín dụng và đầu tư. Đặc biệt, Nhà nước tăng cường hỗ trợ việc tạo ra, bảo hộ, khai thác và quản lý quyền sở hữu trí tuệ của đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ tổ chức, cá nhân Việt Nam xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy các mô hình chuyển nhượng, chuyển giao, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế hợp tác giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp.
Lần đầu tiên, Luật dành một điều riêng quy định về quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ như một loại tài sản. Theo đó, chủ sở hữu quyền có trách nhiệm quản trị nội bộ đối với quyền sở hữu trí tuệ chưa đủ điều kiện ghi nhận trong sổ kế toán, đồng thời được sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để tham gia các giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư, góp vốn hoặc thế chấp vay vốn theo quy định của pháp luật. Đây được coi là bước tiến quan trọng trong việc biến tài sản trí tuệ thành nguồn lực thực sự cho phát triển kinh tế.
Song song với đó, Luật bổ sung các quy định nhằm bảo đảm điều kiện cho hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, trong đó Nhà nước bảo đảm kinh phí, hạ tầng, nguồn lực và tăng cường hợp tác quốc tế. Đặc biệt, Luật đặt trọng tâm vào chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua việc phát triển hạ tầng số, cơ sở dữ liệu về bảo hộ và giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong xử lý nghiệp vụ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và tính minh bạch.
Luật sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan đến xác lập, đăng ký, công bố, thẩm định, duy trì và chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng, theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng trách nhiệm của chủ thể quyền và cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền phản đối, khiếu nại và khởi kiện của các bên liên quan.
Đáng chú ý, Luật lần đầu tiên quy định rõ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng. Các biện pháp xử lý vi phạm được tăng cường, bao gồm buộc gỡ bỏ, vô hiệu hóa truy cập đối với nội dung vi phạm, nâng mức bồi thường thiệt hại và mở rộng các biện pháp xử lý hành chính, dân sự và hình sự nhằm tăng tính răn đe.
Có thể khẳng định, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ là bước hoàn thiện quan trọng về thể chế, thể hiện sự chuyển đổi từ tư duy “bảo vệ quyền” sang “bảo vệ và khai thác hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ”. Việc triển khai đồng bộ, hiệu quả Luật mới sẽ góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, kinh tế sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, qua đó khẳng định vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.