Giải pháp về thể chế và cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý bản quyền với cơ quan công an, các nền tảng số và chủ thể quyền nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ bản quyền, tạo môi trường thuận lợi cho công nghiệp văn hóa Việt Nam

COV - Muốn nâng cao hiệu quả bảo hộ bản quyền trong môi trường số thì phải chuyển mạnh từ tư duy “xử lý từng vụ việc” sang xây dựng một cơ chế bảo vệ chủ động, liên thông và dựa trên công nghệ.

Có thể tập trung vào mấy vấn đề sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Quy định pháp luật cần theo kịp các phương thức khai thác nội dung mới trên nền tảng số, đồng thời làm rõ cơ chế xử lý đối với hành vi tái phạm, vi phạm có tổ chức, vi phạm nhằm mục đích thương mại và các mô hình kinh doanh dựa trên nội dung xâm phạm bản quyền. Mục tiêu là tạo ra một hành lang pháp lý đủ rõ để cơ quan thực thi có thể xử lý nhanh, nhưng cũng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, nền tảng và người sử dụng.

Thứ hai, thiết lập cơ chế phối hợp thực chất, thường xuyên giữa các cơ quan. Cơ quan quản lý về quyền tác giả, quyền liên quan cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an, cơ quan quản lý thị trường, hải quan và các lực lượng liên quan để chia sẻ thông tin, xác minh nguồn vi phạm, xác định chủ thể và xử lý theo đúng thẩm quyền. Quan trọng hơn là cần có quy trình phối hợp thống nhất, đầu mối rõ ràng và cơ chế phản hồi nhanh, thay vì mỗi cơ quan xử lý một khâu một cách rời rạc.

Giải pháp về thể chế và cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý bản quyền với cơ quan công an, các nền tảng số và chủ thể quyền nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ bản quyền, tạo môi trường thuận lợi cho  công nghiệp văn hóa Việt Nam - ảnh 1
Giải pháp về thể chế và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ bản quyền, tạo môi trường thuận lợi cho công nghiệp văn hóa Việt Nam. Ảnh minh họa

Thứ ba, đưa các nền tảng số trở thành một chủ thể tích cực trong hệ sinh thái bảo vệ bản quyền. Các nền tảng cần có cơ chế tiếp nhận và xử lý thông báo vi phạm minh bạch, nhanh chóng; ứng dụng công nghệ nhận diện, đối sánh nội dung và ngăn chặn việc đăng tải lại những nội dung đã được xác định là xâm phạm. Đồng thời, cần có cơ chế trao đổi dữ liệu phù hợp giữa nền tảng và chủ thể quyền, bảo đảm vừa bảo vệ bản quyền vừa tôn trọng quyền riêng tư và các quyền hợp pháp khác.

Thứ tư, xây dựng bộ công cụ rà soát, phát hiện vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường số. Bộ công cụ từng bước ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ nhận dạng nội dung và phân tích dữ liệu lớn để nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và thực thi quyền. Bộ công cụ được xây dựng theo hướng tự động hóa một phần quá trình phát hiện vi phạm, hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước, chủ thể quyền và các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan trong việc rà soát, xác định và thu thập thông tin ban đầu về các hành vi có dấu hiệu xâm phạm. Về lâu dài, có thể phát triển Bộ công cụ thành Hệ thống giám sát và cảnh báo vi phạm bản quyền quốc gia, hình thành nền tảng công nghệ dùng chung cho công tác quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan; đồng thời tạo cơ chế để các chủ thể quyền, tổ chức quản lý tập thể quyền và doanh nghiệp công nghệ tham gia cung cấp dữ liệu, xác nhận quyền và phối hợp xử lý.

Thứ năm, tăng cường vai trò chủ động của chủ thể quyền. Nhà sáng tạo, doanh nghiệp và tổ chức quản lý tập thể quyền cần chủ động đăng ký, lưu giữ chứng cứ về quá trình sáng tạo và quyền sở hữu, áp dụng các công cụ công nghệ để theo dõi việc khai thác tác phẩm trên Internet. Cơ quan quản lý nhà nước có thể hỗ trợ bằng việc xây dựng cơ sở dữ liệu, chuẩn hóa thông tin về quyền và thúc đẩy các giải pháp xác thực, truy xuất nguồn gốc nội dung số.   

Cuối cùng, bảo hộ bản quyền phải gắn với phát triển thị trường nội dung hợp pháp. Nếu người dùng có thể tiếp cận nội dung thuận tiện, với mức chi phí hợp lý và cơ chế cấp phép minh bạch, thì động lực sử dụng nội dung lậu sẽ giảm đáng kể. Khi quyền của người sáng tạo được bảo vệ, doanh thu được phân phối minh bạch và doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư, bản quyền sẽ thực sự trở thành một tài sản và là nguồn lực của công nghiệp văn hóa.

Vì vậy, mục tiêu cuối cùng không chỉ là “ngăn chặn vi phạm”, mà là hình thành một hệ sinh thái số trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế, cơ quan thực thi phối hợp hiệu quả, nền tảng có trách nhiệm, chủ thể quyền chủ động và người sử dụng có nhiều lựa chọn hợp pháp. Đó mới là nền tảng lâu dài để các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển bền vững và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

COV