Giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 (nội dung quyền tác giả, quyền liên quan)

COV - Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2026. Bài viết giới thiệu những nội dung chính của Luật về quyền tác giả, quyền liên quan.

Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành lần đầu tiên vào năm 2005, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009, 2019 và 2022. Về cơ bản, các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ đã tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ và phù hợp để bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả, quyền liên quan.

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (sau đây gọi là “Luật 2025”), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.

Mục tiêu của lần sửa đổi, bổ sung này nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, Nhà nước, nhất là các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị ban hành thời gian gần đây[1], đồng thời tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển thị trường sở hữu trí tuệ trong nước, bảo vệ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân, cập nhật các vấn đề mới liên quan và phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Bài viết này tập trung giới thiệu những nội dung chính của Luật 2025 (về quyền tác giả, quyền liên quan), cụ thể như sau:

1. Phạm vi sửa đổi, bổ sung

Luật 2025 đã sửa đổi 65 điều, bổ sung 03 điều và bãi bỏ 08 điều của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, trong đó có một số nội dung liên quan trực tiếp đến các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan, các quy định chung về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể:

- Tại Phần thứ nhất - Những quy định chung: sửa đổi 04 điều (các điều 4, 6, 7, 8); bổ sung 03 điều (các điều 8a, 11a, 11b).

- Tại Phần thứ hai - Quyền tác giả, quyền liên quan: sửa đổi 12 điều (các điều 15, 16, 22, 26, 33, 42, 49, 50, 51, 54, 55, 57); bãi bỏ 01 điều (Điều 52).

- Tại Phần thứ năm - Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: sửa đổi 07 điều (các điều 198b, 200, 201, 202, 205, 207, 211).

Các nội dung sửa đổi, bổ sung tập trung vào 05 nhóm chính sách đã được thông qua, bao gồm: (1) Hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo; (2) Đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho việc đăng ký, xác lập quyền sở hữu trí tuệ; (3) Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; (4) Bảo đảm thi hành đầy đủ cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập; (5) Cập nhật các vấn đề mới trong bảo hộ sở hữu trí tuệ trên thế giới phù hợp với chính sách và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

2. Một số quy định của Luật 2025 (về quyền tác giả, quyền liên quan)

2.1. Bổ sung đối tượng được bảo hộ quyền liên quan

Luật 2025 đã sửa đổi, hoàn thiện quy định để bổ sung “tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa” là đối tượng được bảo hộ quyền liên quan theo cam kết tại Hiệp định CPTPP, Hiệp định EVFTA.

Như vậy, theo khoản 1 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ, đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm: cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa, tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa.

2.2. Bổ sung các nguyên tắc về bảo hộ quyền, giới hạn, ngoại lệ quyền liên quan đến trí tuệ nhân tạo

- Nguyên tắc nền tảng của pháp luật sở hữu trí tuệ là bảo hộ thành quả lao động sáng tạo của con người. Ngày nay, cùng với sự phát triển bùng nổ của các công nghệ mới, trong đó có hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI), pháp luật cần kịp thời cập nhật để điều chỉnh. Theo đó, Luật 2025 bổ sung khoản 5 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, giao Chính phủ quy định việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ trong trường hợp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo.

- Vấn đề sử dụng văn bản và dữ liệu làm “nguyên liệu đầu vào” để nghiên cứu, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo cũng liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Luật 2025 đã bổ sung khoản 5 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ để quy định trường hợp giới hạn quyền: cho phép sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo nhưng không được ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ. Mục tiêu chính sách của quy định này: hài hòa, cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và tương thích với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đối với văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, Luật 2025 giao Chính phủ tiếp tục quy định các điều kiện sử dụng phù hợp.

2.3. Bổ sung quy định nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn giữa các quyền sở hữu trí tuệ trên cùng một đối tượng

Luật 2025 bổ sung khoản 4 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ quy định trường hợp một đối tượng mà có nhiều quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập thì quyền sở hữu trí tuệ phát sinh sau hoặc được xác lập sau bị buộc chấm dứt thực hiện khi việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ phát sinh sau hoặc được xác lập sau mâu thuẫn với việc khai thác bình thường quyền sở hữu trí tuệ đã phát sinh trước hoặc được xác lập trước. Việc chấm dứt thực hiện quyền sở hữu trí tuệ theo quy định này do Tòa án quyết định; đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết quy định này.

2.4. Bổ sung quy định về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ

Luật 2025 bổ sung Điều 8a Luật Sở hữu trí tuệ quy định về quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ trong trường hợp quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán. Đồng thời khẳng định việc quyền sở hữu trí tuệ có thể được sử dụng để thực hiện các hoạt động giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật vào giao Chính phủ quy định chi tiết Điều này, nhằm khuyến khích và thúc đẩy thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ.

2.5. Bổ sung quy định về chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ

Luật 2025 bổ sung Điều 11b Luật Sở hữu trí tuệ quy định về chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ, tạo nền tảng pháp lý quan trọng tiếp tục hiện đại hóa hệ thống sở hữu trí tuệ, thể hiện định hướng thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Theo đó, Nhà nước thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua việc ưu tiên phát triển đồng bộ hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, các nền tảng số phục vụ nghiệp vụ sở hữu trí tuệ, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ. Giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này.

Nhà nước cũng có chính sách đầu tư để tự động hóa quy trình nghiệp vụ ứng dụng công nghệ, trong đó có dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả, tính minh bạch của hoạt động sở hữu trí tuệ.

2.6. Làm rõ đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả

Luật 2025 đã bổ sung khoản 4 Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ, làm rõ hơn các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả, theo đó khẳng định ý tưởng, khẩu hiệu, tên tác phẩm đứng độc lập thì không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả.

2.7. Sửa đổi khái niệm nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình

Khái niệm “nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình” được sửa đổi theo hướng nhấn mạnh vai trò của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình trong việc khởi xướng và chịu trách nhiệm đối với việc định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh trên bất kỳ phương tiện nào (khoản 3 Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ).

2.8. Sửa đổi, bổ sung trường hợp làm bản sao dự phòng chương trình máy tính

Đối với chương trình máy tính, Luật 2025 tiếp tục khẳng định chế độ bảo hộ như tác phẩm văn học, đồng thời bổ sung quy định linh hoạt hơn về làm bản sao dự phòng chương trình máy tính, phù hợp với thực tiễn hiện nay khi chương trình máy tính được cung cấp dưới dạng dịch vụ hoặc thông qua các nền tảng trực tuyến (khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ).

2.9. Làm rõ đối tượng, hành vi được thực hiện theo giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan trong hoạt động phát sóng

Luật 2025 bổ sung khoản 3a Điều 26 và khoản 2a Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ, làm rõ “đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình” cũng là chủ thể thực hiện theo giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan trong hoạt động phát sóng (sử dụng không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền).

Đồng thời, Luật 2025 sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ, làm rõ các hành vi được thực hiện theo giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan, bao gồm phát sóng và tái phát sóng, truyền đạt đến công chúng (chương trình phát sóng có chứa tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình được sử dụng), phù hợp với Điều ước quốc tế và thực tiễn khai thác, sử dụng của các tổ chức phát sóng hiện nay.

2.10. Sửa đổi quy định về xác định cơ quan là đại diện chủ sở hữu, đại diện quản lý quyền trong trường hợp liên quan đến sở hữu Nhà nước

Khoản 1 và khoản 2 Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ quy định 02 trường hợp: (1) Trường hợp Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan; (2) Trường hợp Nhà nước đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan. Luật 2025 đã sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ, làm rõ cơ quan là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng trong 02 trường hợp nêu trên, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch cho việc thực hiện đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu và việc quản lý, khai thác quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện.

2.11. Hoàn thiện quy định về thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan và trách nhiệm của chủ thể quyền

Luật 2025 đã bổ sung khoản 2a Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, khẳng định rõ trách nhiệm của tác giả, chủ sở hữu quyền đối với các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan.

Đồng thời, Luật 2025 sửa đổi, bổ sung tại các điều 50, 51, 54, 55, bãi bỏ Điều 52 để hoàn thiện các quy định về thủ tục đăng ký theo hướng tinh gọn, đơn giản hóa, đáp ứng yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính. Luật 2025 cũng giao Chính phủ quy định chi tiết về thành phần hồ sơ, điều kiện, trình tự, thủ tục và thời hạn cấp, cấp lại, cấp đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, và việc nộp hồ sơ đăng ký trực tiếp (tự mình) hoặc thông qua đại diện hợp pháp; giao Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định các mẫu văn bản trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan.

2.12. Sửa đổi tên gọi của một số tổ chức trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan

 Luật 2025 sửa đổi tên gọi “tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan” thành “tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan”; sửa đổi tên gọi “tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan” thành “tổ chức dịch vụ đại diện quyền tác giả, quyền liên quan”.

Các sửa đổi này nhằm bảo đảm tính thống nhất, tránh nhầm lẫn về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, phù hợp với kinh nghiệm quốc tế, đồng thời tương đồng với tổ chức tương ứng thuộc lĩnh vực sở hữu công nghiệp và giống cây trồng.

2.13. Làm rõ điều kiện tổ chức dịch vụ đại diện quyền tác giả, quyền liên quan

Luật 2025 bổ sung giao Chính phủ quy định chi tiết loại hình và điều kiện hoạt động của tổ chức dịch vụ đại diện quyền tác giả, quyền liên quan. Quy định này cũng phù hợp với quy định tại Luật Đầu tư sửa đổi năm 2025, theo đó kinh doanh dịch vụ đại diện quyền tác giả, quyền liên quan thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

2.14. Quy định trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số

Luật 2025 đã bổ sung khoản 5a Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ theo hướng mở rộng và làm rõ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng, theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, an ninh mạng và quy định của pháp luật có liên quan.

2.15. Điều chỉnh điều kiện của giám định viên sở hữu trí tuệ và làm rõ quyền yêu cầu giám định của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Luật 2025 đã sửa đổi khoản 3 Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ để điều chỉnh một số điều kiện đối với cá nhân được cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ. Ngoài các điều kiện chung về năng lực hành vi dân sự, cư trú, phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, cá nhân phải thuộc một trong các trường hợp sau:

- Đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực đề nghị cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ từ đủ năm năm trở lên và được chứng nhận đạt yêu cầu khóa đào tạo nghiệp vụ về giám định sở hữu trí tuệ;

- Trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ tại Tòa án và tổ chức trọng tài từ đủ mười lăm năm trở lên và thời gian gián đoạn (nếu có) không quá hai năm tính đến thời điểm đề nghị cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ;

- Trực tiếp tham gia hỗ trợ chuyên môn trong công tác giám định về sở hữu trí tuệ tại tổ chức giám định từ đủ mười lăm năm trở lên và thời gian gián đoạn (nếu có) không quá hai năm tính đến thời điểm đề nghị cấp thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.

Đồng thời, Luật 2025 bổ sung khoản 3a quy định trường hợp thu hồi thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.

Về quyền yêu cầu giám định của cơ quan, tổ chức, cá nhân, Luật 2025 sửa đổi khoản 5 Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ, làm rõ: Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý.

2.16. Bổ sung biện pháp dân sự, biện pháp khẩn cấp tạm thời Tòa án có thể áp dụng, phù hợp với không gian mạng

Luật 2025 sửa đổi Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ về biện pháp dân sự để xử lý hành vi xâm phạm, sửa đổi Điều 207 Luật Sở hữu trí tuệ về biện pháp khẩn cấp tạm thời, áp dụng phù hợp đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trên không gian mạng. Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể áp dụng biện pháp buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đến thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử, ứng dụng hoặc các định danh địa chỉ Internet có liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

2.17. Nâng mức bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần

Luật 2025 đã sửa đổi Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ theo hướng nâng mức bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra, nhằm tăng tính răn đe và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể:

- Đối với mức bồi thường thiệt hại về vật chất: Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Tòa án quyết định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá một tỷ đồng (quy định trước đây là năm trăm triệu đồng).

- Đối với mức bồi thường thiệt hại về tinh thần: Tòa án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ mười lần đến một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại (quy định trước đây là từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng).

Ngoài ra, Luật 2025 còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung, quy định mang tính kỹ thuật, rà soát khác để bảo đảm tính thống nhất, phù hợp.

Có thể thấy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ là một bước tiến cần thiết nhằm hoàn thiện chính sách về sở hữu trí tuệ trong bối cảnh mới, đặt nền tảng cho hệ sinh thái sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên số. Với những điều chỉnh quan trọng, đổi mới và phù hợp với yêu cầu thực tiễn, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam./.



[1] 04 Nghị quyết bao gồm: (1) Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; (2) Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; (3) Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; (4) Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.