COV - Ngày 17 tháng 7 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 287/2026/NĐ-CP quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản.
Nghị định số 287/2026/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản và Nghị định số 21/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026, đã tạo lập một khuôn khổ pháp lý thống nhất về tiền bản quyền đối với các tác phẩm được sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước cũng như việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý.
Hoàn thiện khung pháp lý về tiền bản quyền đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới
Việc xây dựng Nghị định số 287/2026/NĐ-CP xuất phát từ yêu cầu tiếp tục thể chế hóa các chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế tư nhân; đồng thời cụ thể hóa khoản 4 Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ về tiền bản quyền trong trường hợp Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan.
Bên cạnh yêu cầu hoàn thiện pháp luật, thực tiễn thi hành Nghị định số 18/2014/NĐ-CP và Nghị định số 21/2015/NĐ-CP trong nhiều năm qua cũng đặt ra yêu cầu phải đổi mới cách tiếp cận. Các quy định trước đây chủ yếu tập trung vào việc chi trả trong giai đoạn sáng tạo tác phẩm, trong khi cơ chế khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan sau khi tác phẩm được hình thành chưa được điều chỉnh đầy đủ. Đồng thời, những thay đổi về cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu, tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, quản lý tài sản công cũng đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung các quy định bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Với 07 chương và 21 điều, Nghị định số 287/2026/NĐ-CP được xây dựng theo hướng bao quát cả hai nhóm hoạt động: trả tiền bản quyền đối với việc sáng tạo tác phẩm bằng nguồn ngân sách nhà nước và trả tiền bản quyền đối với việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản. Như vậy, nếu trước đây Nghị định số 18/2014/NĐ-CP và Nghị định số 21/2015/NĐ-CP chủ yếu giải quyết câu hỏi “trả bao nhiêu khi sáng tạo tác phẩm?”, thì Nghị định số 287/2026/NĐ-CP đặt thêm câu hỏi và giải quyết vấn đề “tác phẩm sẽ tạo ra giá trị kinh tế như thế nào sau khi ra đời, và người sáng tạo được hưởng bao nhiêu từ giá trị đó?”.
Hoàn thiện những nguyên tắc chung về trả tiền bản quyền
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị định là xây dựng các nguyên tắc chung làm cơ sở thống nhất để áp dụng trong tất cả các lĩnh vực.
Theo đó, việc trả tiền bản quyền đối với hoạt động sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu và các quy định của Nghị định. Đối với việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý, tiền bản quyền được xác định trên cơ sở thỏa thuận, đồng thời tuân thủ pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định pháp luật có liên quan. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính linh hoạt, vừa bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch và sử dụng hiệu quả tài sản trí tuệ thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước.
Nghị định cũng quy định rõ cơ chế phân chia tiền bản quyền giữa các đồng tác giả, các chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan; quy định việc lập dự toán, thanh toán, quyết toán kinh phí và phương thức thanh toán tiền bản quyền. Những quy định này góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý trong quá trình tổ chức thực hiện, hạn chế những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
Hoàn thiện cơ chế tiền bản quyền khuyến khích
Một trong những chính sách nổi bật của Nghị định là tiếp tục kế thừa và hoàn thiện theo hướng mở rộng hơn đối với cơ chế tiền bản quyền khuyến khích, qua đó tạo động lực cho hoạt động sáng tạo cũng như khuyến khích việc khai thác, phát huy giá trị của các tác phẩm sau khi được đưa vào sử dụng. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thực hiện chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo và phát huy giá trị của quyền tác giả, quyền liên quan trong bối cảnh mới.

Theo quy định của Nghị định, bên cạnh khoản tiền bản quyền được xác định theo định mức hoặc biểu mức, tác giả và các chức danh sáng tạo còn có thể được hưởng tiền bản quyền khuyến khích trong một số trường hợp cụ thể. Cơ chế này được thiết kế xuyên suốt cả hai giai đoạn của quá trình hình thành và khai thác tài sản trí tuệ, bảo đảm việc ghi nhận đầy đủ hơn những đóng góp của người sáng tạo.
Đối với giai đoạn sáng tạo, tiền bản quyền khuyến khích được áp dụng đối với những tác phẩm thuộc các đề tài, loại hình hoặc điều kiện sáng tạo cần được ưu tiên, khuyến khích phát triển, như tác phẩm về trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, các loại hình nghệ thuật truyền thống, giao hưởng, opera, kịch múa (ba lê), xiếc, phóng sự điều tra; các tác phẩm dành cho người khuyết tật hoặc được sáng tạo trực tiếp bằng tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số hay trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm. Việc bổ sung cơ chế này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với những lĩnh vực có ý nghĩa về chính trị, văn hóa, xã hội hoặc có giá trị đặc thù nhưng đòi hỏi nhiều công sức, trình độ chuyên môn và điều kiện sáng tạo đặc biệt.
Đối với giai đoạn khai thác, sử dụng, Nghị định quy định khi quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu được khai thác, sử dụng có hiệu quả và mang lại lợi nhuận thì tác giả, các chức danh sáng tạo khác được hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích theo thỏa thuận trên cơ sở mức độ đóng góp, với tổng mức không quá 10% lợi nhuận thu được. Quy định này góp phần gắn kết lợi ích của người sáng tạo với hiệu quả khai thác tác phẩm trên thực tế, khuyến khích việc nâng cao chất lượng tác phẩm ngay từ đầu. Lần đầu tiên, người sáng tạo không chỉ nhận tiền “làm ra tác phẩm” mà còn được gắn quyền lợi với hiệu quả thương mại hóa sau này; không chỉ là “được hưởng thêm 10% lợi nhuận” mà quy định này còn tạo cơ chế để người sáng tạo tiếp tục được hưởng lợi khi tác phẩm tiếp tục tạo ra giá trị kinh tế tương ứng.
Hình thành cơ chế khai thác quyền tác giả theo hướng thị trường
Một điểm mới quan trọng của Nghị định là bổ sung các quy định về chi trả tiền bản quyền trong giai đoạn khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý.
Đây là bước chuyển đáng chú ý trong chính sách về bản quyền, không chỉ tập trung vào hoạt động sáng mà còn coi quyền tác giả, quyền liên quan là một loại tài sản trí tuệ cần được khai thác hiệu quả trong suốt vòng đời của tác phẩm. Việc trả tiền bản quyền trên cơ sở thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý tài sản công và các quy định liên quan sẽ góp phần phát huy giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, tác giả và các tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm. Qua đó, Nghị định góp phần từng bước hình thành cơ chế quản trị tài sản trí tuệ theo hướng hiện đại, minh bạch và phù hợp với cơ chế thị trường.
Những nguyên tắc chung trên là cơ sở để Nghị định số 287/2026/NĐ-CP xây dựng cơ chế tiền bản quyền phù hợp với đặc thù của từng loại hình sáng tạo. Đây cũng là nội dung được thể hiện rõ qua các quy định riêng đối với lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản.